Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG NGUYÊN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày: 22/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tường và bà Lê Thị Thanh Nhung.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn A, tên gọi khác: không; sinh ngày: 27 tháng 3 năm 1987, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn T; con bà: Nguyễn Thị L; vợ: Thái Thị M (đã ly hôn); con: Có 01 con sinh năm 2006; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 24/6/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên xử phạt 04 tháng 03 ngày tù về tội: Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HSST) - chấp hành xong hình phạt vào ngày 08/7/2024; nhân thân: Ngày 20/11/2017 bị Công an huyện H, tỉnh Nghệ An xử phạt: 2.000.000đ về hành vi: “Trộm cắp tài sản” (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPVPHC) – Đã nộp phạt xong vào ngày 20/11/2017. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/9/2024 cho đến nay. Có mặt.

- Người bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm: 1976; nơi cư trú: K, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1967; nơi cư trú: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Cháu Quốc C; sinh năm: 2008; nơi cư trú: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu C: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1967; nơi cư trú: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

  1. Ông Nguyễn Văn K, sinh năm: 1965; nơi cư trú: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 07/9/2024, Trần Văn A điều khiển xe máy điện nhãn hiệu TH CEO màu sơn xám đi từ nhà ở thuộc thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An đến xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An để thuê phòng trọ. Khi đi đến dãy phòng trọ của anh Nguyễn Minh C1 (thuộc xóm A, xã H, huyện H) thấy cửa cổng bằng thép B40 khép hờ, không khóa, nên Anh đẩy cửa đi vào. Anh nhìn thấy phòng của chị Nguyễn Thị Kim T1 đang mở cửa, chỉ có mẹ con chị T1 đang nằm trên võng phía ngoài phòng, đầu quay cùng hướng với cửa phòng. Anh đi vòng ra phía sau nhẹ nhàng rón rén đi vào phòng. Khi nhìn thấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S, màu đỏ đang cắm sạc ở trên tủ lạnh. Anh lấy điện thoại cất vào túi quần bên trái phía trước đang mặc đi ra khỏi dãy trọ rồi cất điện thoại vừa trộm được vào cốp xe máy điện. Sau đó, A đi đến quán bia của ông Nguyễn Văn K (tại xóm A, xã H, huyện H) nhờ sạc pin cho xe máy điện. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, Anh tiếp tục đi bộ quanh khu vực xóm A, xã H, huyện H để xem nhà nào sơ hở thì tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp. Khi đến nhà của anh Nguyễn Văn T2, Anh thấy cửa đang mở. Quan sát xung quanh không có ai nên A đi vào nhà thì thấy có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12 5G, màu trắng, ốp màu vàng đang sạc trên giường ở giữa nhà. Anh cầm lên định tháo sạc để lấy trộm thì bị cháu Nguyễn Đức C2 (con trai anh T2) phát hiện. Cháu C2 đã hô lên: “Bố ơi, trộm bố ơi, ăn trộm”. Nghe tiếng hô, A thả điện thoại xuống và bỏ chạy. Khi chạy được khoảng 100 mét, A bị anh T2 và cháu C2 bắt giữ và giao cho Công an xã H, huyện H xử lý.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 43/KL-HĐĐGTS ngày 12/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện H kết luận: Chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12 5G, màu trắng, đã qua sử dụng tại thời điểm định giá trị giá là 2.826.000 đồng. Chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A5S, màu đỏ, đã qua sử dụng tại thời điểm định giá trị giá là 650.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 3.476.000 đồng.

Cáo trạng số 74/CT-VKS-HN ngày 01/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Trần Văn A về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa Trần Văn A đã khai nhận hành vi mà bị cáo A thực hiện vào ngày 07/9/2024 giống như nội dung bản cáo trạng và nội dung vụ án như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Trần Văn A phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo Trần Văn A từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 07/9/2024. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về chứng cứ xác định tội danh: Lời khai tại phiên tòa và lời khai trong quá trình điều tra của bị cáo là thống nhất với nhau, phù hợp với biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang lập ngày 07/9/2024; phù hợp với lời khai của các bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ 13 giờ 30 phút đến 14 giờ ngày 07/9/2024, tại địa bàn xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, Trần Văn A đã lén lút trộm cắp chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A5s, màu đỏ của chị Nguyễn Thị Kim T1 và trộm chiếc điện thoại Xiaomi Redmi Note 12 5G, màu trắng của anh Nguyễn Văn T2.

Do tổng trị giá 02 chiếc điện thoại mà bị cáo chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Kim T1 và anh Nguyễn Văn T2 trong ngày 07/9/2024 có tổng trị giá là 3.476.000 đồng (trong đó chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A5s, màu đỏ của chị T1 được định giá là được định giá là: 650.000 đồng; trị giá chiếc điện thoại Xiaomi Redmi Note 12 5G, màu trắng của anh T2 được định giá là 2.826.000 đồng). Nên hành vi của bị cáo đã có đầy đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Đây là vụ án xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu để chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị là 3.476.000 đồng. Hành vi này là nguy hiểm cho xã hội nên cần xử lý nghiêm bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Do bị cáo chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cần xem xét cho bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; chú ruột của bị cáo và cậu ruột của bị cáo đều là Liệt sĩ. Nên bị cáo sẽ được hưởng những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, đang có 01 tiền án về tội: “Trộm cắp tài sản” nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và răn đe. Tuy nhiên, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, tài sản mà bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn nên chỉ cần xử bị cáo mức án được quy định tại đầu khung hình phạt cũng đủ điều kiện giáo dục và cải tạo bị cáo. Mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp và nghiêm minh nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (là hình phạt tiền) đối với bị cáo.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại là chị Nguyễn Thị Kim T1, anh Nguyễn Văn T2 đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nay không yêu cầu gì thêm nên Tòa miễn xét.

[6]. Về vật chứng: Vật chứng đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện H xử lý xong.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn A phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn A 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 07/9/2024.

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Trần Văn A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Tường Lê Thị Thanh N

Nguyễn Thị Kim T3

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Hưng Nguyên;
  • - Công an huyện Hưng Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Nguyên;
  • - Bị cáo; người bị hại; người LQ
  • - TAND và Sở tư pháp tỉnh NA;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án trộm Trần Văn Anh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger