Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày: 22-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Minh

2/ Bà Trương Thị Kim Cương

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Quân – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham

gia phiên tòa: Ông Võ Quang Mãi - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu N; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày : 20/6/2002; N1 sinh: huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Nơi thường trú: ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Nơi ở hiện tại: ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Long An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12. Con ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1963 và bà Trần Thị T, sinh năm 1967. Có 01 em ruột, sinh năm 2007. Vợ, con: không có. Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ 27/12/2023 cho đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bà Trần Thị T, sinh năm 1967; Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (có mặt)

- Ông Nguyễn Thành P, sinh năm 2002. Địa chỉ: D, ấp D, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 04/9/2023, Nguyễn Thành P, sinh năm 2002, nơi thường trú: D6/13, ấp D, xã L, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh được T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) gọi qua ứng dụng Zalo để nhờ P đến Công ty Q1 tại đường số A, khu công nghiệp T, ấp B, xã Đ, huyện Đ đánh nhau vì N3 (bạn của T1; không rõ nhân thân, lai lịch) bị nhóm người lạ mặt đánh ở trước cổng Công ty Q1. Lúc này, P không có xe đi đến Công ty Q1 nên P hẹn T1 vài ngày nữa sẽ giúp N3 đánh lại nhóm người trên. Khoảng 10 giờ ngày 05/9/2023, P gọi Nguyễn Hữu N, sinh năm 2002, qua ứng dụng Messenger để rủ N đến nhà P rồi cùng P đi trả thù cho anh của P vì anh của P bị đánh và N đồng ý. Sau đó, N lấy 01 (một) túi xách màu xanh từ trong phòng hát của nhà N tại ấp N, xã H, huyện T ở trong túi xách có chứa: 01 (một) khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen, loại súng ổ xoay có 06 (sáu) lỗ, trong súng có lắp sẵn 03 (ba) viên đạn; 01 (một) roi điện; 01 (một) bình xịt hơi cay; 02 (hai) khóa số tám; 01 (một) viên đạn. N mang túi xách này theo và điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki Satria màu xanh, biển kiểm soát 66M1-514.80 đi đến nhà P ở ấp D, xã L, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi đến nhà P thì N ngủ đến 16 giờ 30 phút rồi N điều khiển xe mô tô trên chở P đến trước cổng Công ty Q1 để xem mặt người đã đánh anh của P trước đó nhưng không gặp được nên khoảng 17 giờ 30 phút thì N chở P về nhà P; khi đi thì N, P không mang bất kì hung khí gì theo. Khi về đến nhà P thì P rủ N ở lại nhà P để ngày mai tiếp tục đi tìm người đã đánh anh của P và N đồng ý. Khoảng 22 giờ, P hỏi N có mang đồ gì theo không thì N lấy 01 (một) khẩu súng bằng kim loại màu đen, loại súng ổ xoay có 06 (sáu) lỗ và 01 (một) bình xịt hơi cay từ trong túi xách bằng vải màu xanh của N cho P xem. Sau đó, N tiếp tục cất 01 (một) khẩu súng và 01 (một) bình xịt hơi cay vào túi xách bằng vải màu xanh của N.

Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 06/9/2023, P tiếp tục rủ N đi đến Công ty Q1 để tìm người đánh anh của P. Lúc này, P nói N để khẩu súng ngắn ở nhà P nhưng N vẫn mang theo vì đánh nhau xong thì N đi về luôn chứ không quay lại nhà P nữa. Khi đi, P mang 01 (một) cây gậy sắt bằng kim loại màu đen còn N đeo túi xách màu xanh ở trước ngực và điều khiển xe mô tô trên chở P đến ngã ba đối diện Công ty Q1 thì dừng lại. N và P đứng đợi khoảng 05 phút thì bị lực lượng Đồn Công an khu công nghiệp kiểm tra, tạm giữ đồ vật có liên quan và mời về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc với Cơ quan An ninh điều tra N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận giám định số: 6079/KL-KTHS ngày 26/9/2023 của Phân Viện khoa học hình sự Bộ C tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận như sau:

- Khẩu súng gửi giám định là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng, thuộc loại súng ngắn ổ quay chế tạo thủ công bắn đạn cỡ (5,6 x 15,5)mm.

- 04 (bốn) viên đạn gửi giám định là vũ khí thể thao, thuộc loại đạn cỡ (5,6 x 15,5)mm, không phải là vũ khí quân dụng.

3

Tại Cáo trạng số 33/CT-VKSĐH ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Hữu N về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có khiếu nại đối với kết luận giám định. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu N phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo N với mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với một khẩu súng ngắn ổ xoay, có chữ: “SMITH&WESSON”, “ZP5”, “MADE IN CHINA”; cao 14cm, đầu nòng súng dài 4cm, thân súng dài 16cm, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu giao Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh L.

- Đối với 01 (một) túi xách màu xanh đậm, có họa tiết màu trắng, đỏ, vàng, xanh; loại 03 ngăn kéo, có 02 dây đeo; cao 25cm, rộng 15cm, ngang 20cm, đề nghị Hồi đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) bình xịt hơi cay; 01 (một) roi điện; 02 (hai) khóa số tám là công cụ hỗ trợ và 01 (một) cây gậy sắt là của Nguyễn Thành P và không liên quan đến vụ án.

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, loại SATRIA, biển kiểm soát: 66M1-514.80 là tài sản hợp pháp của bà Trần Thị T, sinh năm 1967, địa chỉ: ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An, đã được trả lại cho chủ sở hữu nên không đề cập xem xét.

Bị cáo Nguyễn Hữu N khai nhận sử dụng khẩu súng nêu trên để bắn thử và nổ 02 (hai) viên đạn. Tuy nhiên, không thu được vỏ đạn, đầu đạn; không có người chứng kiến quá trình N bắn thử đạn và không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh hành vi sử dụng khẩu súng của N nên không đủ cơ sở xem xét xử lý đối với N về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Hữu N có hành vi tàng trữ trái phép 04 (bốn) viên đạn là vũ khí thể thao; 01 (một) roi điện, 01 (một) bình xịt hơi cay, 02 (hai) khóa số tám là công cụ hỗ trợ. Hành vi của N có dấu hiệu vi phạm Điều 11 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia

4

đình. Căn cứ khoản 4 Điều 39 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì hành vi của N thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng Công an huyện Đ. Ngày 26/3/2024, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh đã có Công văn số: 126/ANĐT đề nghị Trưởng Công an huyện Đ xem xét xử lý hành vi nêu trên của N theo quy định của pháp luật, nên không đề cập xem xét.

Đối với 01 (một) khẩu súng, 01 (một) roi điện, 01 (một) bình xịt hơi cay do bị can N đặt mua trên trang Youtube; không có thông tin về trang Youtube và người bán những đồ vật này nên không có cơ sở để tiếp tục xác minh, truy nguyên nguồn gốc của những đồ vật nêu trên. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Hữu N khai nhận Lê Hoàng Q, nhà ở xã H, huyện T cho bị can N 02 (hai) khóa số tám nhưng qua xác minh thì ở xã H không có công dân tên Lê Hoàng Q đăng ký thường trú và sinh sống nên không đủ cơ sở để tiếp tục làm rõ nguồn gốc của 02 (hai) khóa số tám.

Trong quá trình điều tra Cơ quan An ninh điều tra xác định Nguyễn Thành P có hành vi “không tố giác tội phạm” nên ngày 08/01/2024 Cơ quan An ninh điều tra đã ra Quyết định tách và chuyển nguồn tin về tội phạm nêu trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ theo thẩm quyền.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai và hối hận với hành vi phạm tội của mình, đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, qua đó đủ cơ sở xác định: Khoảng tháng 5/2022, Nguyễn Hữu N đặt mua một khẩu súng ngắn (bằng kim loại, loại súng ổ xoay có sáu lỗ) là vũ khí quân dụng và 06 viên đạn thể thao trên trang Youtube. Sau đó, N bỏ khẩu súng và đạn vào trong túi xách và cất trong phòng hát nhà N. Khoảng 10 giờ ngày 05/9/2023, N mang theo túi xách bên trong có chứa 01 khẩu súng, 4 viên đạn đến nhà Nguyễn Thành P và ngủ lại tại nhà P. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 06/9/2023, N đi cùng P đến Công ty Q1

5

để tìm người đánh anh của P. N mang theo túi xách và điều khiển xe mô tô chở P đến ngã ba đối diện Công ty Q1 tại đường số A, khu công nghiệp T, ấp B, xã Đ, huyện Đ thì bị Công an phát hiện và bắt quả tang. Hành vi tàng trữ vũ khí quân dụng của bị cáo N không được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền. Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”, tội phạm và hình phạt được quy định Điều 304 Bộ luật hình sự.

[3] Về định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An truy tố bị cáo về hành vi theo tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

[4] Xét, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách quản lý của nhà nước về vũ khí quân dụng. Vũ khí quân dụng là vũ khí được chế tạo, sản xuất đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp, được trang bị cho các lực lượng vũ trang và các lực lượng khác để thi hành công vụ, là những loại công cụ có đặc tính nguy hiểm, có thể gây mất an toàn cho cuộc sống cộng đồng và nhà nước có chế độ quản lý đặc biệt. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được việc tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp để thực hiện, vì vậy phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc mới thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật.

[5] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hữu N thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, ba ruột bị cáo mất khả năng lao động, mẹ ruột và em ruột bị cáo bị bệnh tật được hưởng chế độ bảo trợ xã hội có xác nhận của chính quyền địa phương đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với một khẩu súng ngắn ổ xoay, có chữ: “SMITH&WESSON”, “ZP5”, “MADE IN CHINA”; cao 14cm, đầu nòng súng dài 4cm, thân súng dài 16cm là vật cấm tàng trữ nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh L để xử lý theo thẩm quyền.

- Đối với 01 (một) túi xách màu xanh đậm, có họa tiết màu trắng, đỏ, vàng, xanh; loại 03 ngăn kéo, có 02 dây đeo; cao 25cm, rộng 15cm, ngang 20cm, không còn giá trị sử dụng, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

6

- Đối với 01 (một) bình xịt hơi cay; 01 (một) roi điện; 02 (hai) khóa số tám là công cụ hỗ trợ và 01 (một) cây gậy sắt là của Nguyễn Thành P và không liên quan đến vụ án. Cơ quan An Ninh điều tra Công an tỉnh đã chuyển những đồ vật này đến Công an huyện Đ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật, nên không đề cập xem xét.

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, loại SATRIA, biển kiểm soát: 66M1-514.80 do bà Trần Thị T, sinh năm 1967, địa chỉ: ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An đứng tên chủ sở hữu. Ngày 28/3/2024, Cơ quan An ninh điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật số: 91/QĐ-ANĐT bằng hình thức trả lại xe mô tô này cho bà T là đúng quy định pháp luật.

[8] Bị cáo Nguyễn Hữu N khai nhận sử dụng khẩu súng nêu trên để bắn thử và nổ 02 (hai) viên đạn. Tuy nhiên, không thu được vỏ đạn, đầu đạn; không có người chứng kiến quá trình N bắn thử đạn và không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh hành vi sử dụng khẩu súng của N nên không đủ cơ sở xem xét xử lý đối với N về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

[9] Bị cáo Nguyễn Hữu N có hành vi tàng trữ trái phép 04 (bốn) viên đạn là vũ khí thể thao; 01 (một) roi điện, 01 (một) bình xịt hơi cay, 02 (hai) khóa số tám là công cụ hỗ trợ. Hành vi của N có dấu hiệu vi phạm Điều 11 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình. Căn cứ khoản 4 Điều 39 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì hành vi của N thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng Công an huyện Đ. Ngày 26/3/2024, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh đã có Công văn số: 126/ANĐT đề nghị Trưởng Công an huyện Đ xem xét xử lý hành vi nêu trên của N theo quy định của pháp luật, nên không đề cập xem xét.

[10] Đối với 01 (một) khẩu súng, 01 (một) roi điện, 01 (một) bình xịt hơi cay do bị can N đặt mua trên trang Youtube; không có thông tin về trang Youtube và người bán những đồ vật này. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Hữu N khai nhận Lê Hoàng Q, nhà ở xã H, huyện T cho bị cáo N 02 (hai) khóa số tám nhưng qua xác minh thì ở xã H không có công dân tên Lê Hoàng Q đăng ký thường trú và sinh sống nên không đủ cơ sở để tiếp tục làm rõ nguồn gốc của 02 (hai) khóa số tám. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra không có cơ sở để tiếp tục xác minh, truy nguyên nguồn gốc của những đồ vật nêu trên là có căn cứ.

[11] Ngoài ra trong quá trình điều tra Cơ quan An ninh điều tra xác định Nguyễn Thành P có hành vi “không tố giác tội phạm” nên ngày 08/01/2024 Cơ quan An ninh điều tra đã ra Quyết định tách và chuyển nguồn tin về tội phạm nêu trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ theo thẩm quyền.

[12] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

7

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu N phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ khi thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

- Tịch thu giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh L để xử lý theo thẩm quyền: 01 (một) khẩu súng ngắn ổ xoay, có chữ: “SMITH&WESSON”, “ZP5”, “MADE IN CHINA”; cao 14cm, đầu nòng súng dài 4cm, thân súng dài 16cm. (Các vật chứng này hiện nay do Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh L đang quản lý theo Lệnh nhập kho vật chứng số 20/LNK-ANĐT, ngày 13/3/2024 của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L và Lệnh nhập kho số 08/VC-24 ngày 02/4/2024 của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh L).

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi xách màu xanh đậm, có họa tiết màu trắng, đỏ, vàng, xanh; loại 03 ngăn kéo, có 02 dây đeo; cao 25cm, rộng 15cm, ngang 20cm (vật chứng này do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 200/QĐ-VKSĐH ngày 23/4/2024 và biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 94-25/04/2024 ngày 25/4/2024).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Hữu N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- TAND, VKSND tỉnh Long An;

- VKSND huyện Đức Hòa;

- Công an huyện Đức Hòa;

- Chi cục THADS huyện Đức Hòa;

- Cơ quan THAHS huyện Đức Hòa;

- Bị cáo; NLQ.

- Lưu hồ sơ; VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thùy Trang

8

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Chí Lin - Lý Văn Hùng

Lê Thị Thùy Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng)

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu Nhân phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger