|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 72/2024/HS-ST
Ngày: 11-12-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Phú.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Trọng Thơi, nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí;
- Ông Trần Văn Cường, nghề nghiệp: Giáo viên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Thọ - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Trần Vũ Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, số F đường Đ, phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Huy T (tên gọi khác: Không), sinh ngày: 20/3/1995 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Căn cước công dân số: [...], ngày cấp: 23/3/2023, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi cư trú: Thôn H, xã D, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con của ông Liên C và bà Phan Thị B; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo con thứ bảy; Có vợ là Lê Thị Kim N và có 01 con sinh năm 2016; Tiền sự: không; Tiền án: Có 01 tiền án, vào năm 2022 đã bị kết án 01 năm 01 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo Bản án số 180/2022/HSST ngày 09/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích. Về nhân thân: Vào năm 2018, đã bị Công an thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc, theo Quyết định số: 0002632/QĐ-XPVPHC ngày 24/5/2018, đã chấp hành xong ngày 29/5/2018; Năm 2019, đã bị Công an thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc, theo Quyết định số: 0000038/QĐ-XPVPHC ngày 03/9/2019, đã chấp hành xong ngày 24/01/2020.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 13/6/2024 cho đến nay. Có mặt.
2. Trần Văn T1 (tên gọi khác: Đ), sinh ngày: 23/01/2005, tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cước công dân số: 0460205003979, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi cư trú: Số nhà H ngõ A kiệt C đường N, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con của ông Trần Văn T2 và bà Lê Thị Kim T3 (đã chết); Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo con thứ nhất; vợ con: chưa có; Tiền sự: không. Tiền án: có 01 tiền án, vào năm 2022 đã bị kết án 01 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”, theo Bản án số 37/2022/HSST ngày 12/7/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích. Về nhân thân: Vào năm 2019, đã bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt cảnh cáo về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác”, theo Quyết định số: 0002373/QĐ-XPVPHC ngày 29/11/2019, đã chấp hành xong; Năm 2020, đã bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”, theo Quyết định số: 0003533/QĐ-XPHC ngày 30/03/2020, đã chấp hành xong; Năm 2020 đã bị kết án 01 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, theo Bản án số 26/2020/HSST ngày 21/02/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích.
Bị cáo hiện là phạm nhân đang thi hành án theo Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HSST ngày 06/9/2024 của TAND thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế và Quyết định Thi hành án số 83/2024/QĐ-CA ngày 08/10/2024 của TAND thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
3. Nguyễn Hoàng P (tên gọi khác: Không), sinh ngày: 27/11/2007, tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cước công dân số: 0460207011755, ngày cấp: 10/02/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi cư trú: Tổ G, khu V, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con của ông Nguyễn Đình C1 và bà Nguyễn Thị T4; Gia đình có 03 anh em, bị cáo con thứ nhất; vợ con: chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: không. Về nhân thân: Vào năm 2024 đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế khởi tố về hành vi “Trộm cắp tài sản”, theo Quyết định khởi tố bị can số 552/QĐ-ĐCSHS ngày 04/10/2024.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/6/2024, đến ngày 24/10/2024 thì bị bắt tạm giam về một tội phạm khác theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 845/LB-ĐCSHS ngày 04/10/2024, của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
4. Lê Văn H (tên gọi khác: Nguyễn Phi H1, B1), sinh ngày: 11/10/2005, tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cước công dân số: Không có; Nơi đăng ký HKTT: Không có. Nơi cư trú hiện nay: Tổ G, khu V, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con của ông Nguyễn Phi H2 và bà Lê Thị S; Gia đình có 02 chị em, bị cáo con thứ hai; vợ con: chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/8/2024 cho đến nay. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hoàng P là: Ông Nguyễn Đình C1, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1976 (cha mẹ bị cáo P). Địa chỉ: Tổ G, khu V, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông C1 vắng mặt, có mặt bà T4.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng P là: Bà Nguyễn Thị S1, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn S2, sinh năm 2002. Địa chỉ: Tổ H, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Võ Đại Hải H3, sinh năm 1986. Địa chỉ: Số A kiệt CN, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- + Anh Lê Trương Quốc N1, sinh năm 2001. Địa chỉ: Số B đường L, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- + Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1976. Địa chỉ: Tổ G, khu V, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- + Anh Huỳnh Nguyễn Quốc H4, sinh năm 2003. Địa chỉ: Số A đường H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970 (mẹ bị hại S2). Địa chỉ: Tổ H, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Anh Trần Ngọc T5, sinh năm 2005. Địa chỉ: số G đường Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Văn C2, sinh năm 1993. Địa chỉ: Số G đường N (Tổ G), phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 2002. Địa chỉ: Tổ I, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Huy T và anh Nguyễn Văn S2 là bạn bè với nhau. Vào năm 2023, anh S2 có mượn của bị cáo T số tiền là 8.000.000 đồng, sau đó bị cáo T đã nhiều lần yêu cầu anh S2 trả tiền trên nhưng anh S2 không trả. Vào khoảng 19 giờ ngày 17/4/2024, bị cáo T nhớ lại việc S2 mượn tiền lâu không trả nên đi tìm S2 để đòi nợ. Bị cáo T điện thoại cho bị cáo Trần Văn T1, để rủ đi đòi nợ cùng thì T1 đồng ý. Sau đó, bị cáo T điều khiển xe mô tô BKS: 38P1-153.47 (xe của anh Võ Đại Hải H3), đến quán cà phê ở thành phố H để gặp bị cáo T1. Tại đây, bị cáo T1 rủ thêm bị cáo Nguyễn Hoàng P và bị cáo Lê Văn H cùng đi đòi nợ thì bị cáo P, bị cáo H đồng ý. Bị cáo H điều khiển xe mô tô BKS: 75F2-210.60 (xe của bà Nguyễn Thị T4) chở bị cáo T1, còn bị cáo T điều khiển xe mô tô BKS: 38P1-153.47 chở bị cáo P. Cả bốn bị cáo cùng nhau đi về quán N2 ở tại tổ G, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế để tìm anh S2. Khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày thì nhóm bị cáo T đến quán N2, cả nhóm dừng xe trước quán; bị cáo P và bị cáo T1 đứng ở ngoài còn bị cáo T và bị cáo H đi vào trong quán, bị cáo H phát hiện thấy anh S2 đang ngồi chơi game trong quán nên chỉ cho bị cáo T. Bị cáo T đến dùng tay phải túm cổ áo phía sau của anh S2 và nói: “Tau về đây mi hiểu rồi chi nữa, mi đi ra đây”, rồi túm cổ áo kéo anh S2 ra ngoài quán. Khi bị cáo T vừa kéo anh S2 ra trước cổng quán nét thì bị cáo T1 đi đến dùng tay đánh một cái vào mặt của anh S2 (không gây thương tích gì). Lúc này, bị cáo T nói anh S2: “Mi đi lên xe”; sợ bị đánh nên anh S2 không dám chống cự, ngồi lên xe mô tô BKS: 75F2-210.60 do bị cáo H điều khiển, còn bị cáo T1 đến ngồi lên xe phía sau anh S2, để giữ lại S2. Sau đó, cả nhóm chở anh S2 đi lên hướng thành phố H, đến bãi đất trống, vắng người, phía sau trường Đại học L1 thì tất cả dừng lại.
Tại đây, bị cáo T dùng tay đánh vào mặt anh S2 (không gây thương tích gì) và kéo anh S2 lên lề đường nói: “Chừ chuyện tiền bạc mi nợ tau tính răng, bữa chừ răng mà trốn tau”; Trong lúc bị cáo T đánh anh S2 và nói với anh S2 thì các bị cáo T1, P, H đứng xung quanh để hỗ trợ bị cáo T. Lo sợ bị đánh nên anh S2 xin bị cáo T cho mượn điện thoại để gọi cho bạn mượn tiền thì bị cáo T đồng ý. Bị cáo T nói với T1 cho S2 mượn điện thoại thì bị cáo T1 đưa điện thoại hiệu Iphone XS Max của bị cáo T1 cho S2 mượn. Anh S2 gọi cho bạn là anh Huỳnh Nguyễn Nhật H5 hỏi mượn tiền nhưng anh H5 không có, nên S2 tiếp tục gọi cho bạn là anh Lê Trương Quốc N1 để mượn tiền thì anh N1 đồng ý, cho S2 mượn số tiền 1.000.000 đồng và nói anh S2 đọc số tài khoản để anh N1 chuyển tiền vào. Nghe vậy, bị cáo T nói bị cáo P đọc số tài khoản của bị cáo P, để nhận tiền thì bị cáo P nhờ bạn là anh Trần Ngọc T5 đưa số tài khoản của anh T5 để anh N1 chuyển tiền vào tài khoản. Sau khi xác nhận đã nhận được tiền số tiền 1.000.000 đồng thì nhóm bị cáo T chở anh S2 ra khu vực trước Trường đại học L1 rồi cho anh S2 về. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, anh T5 chuyển lại số tiền 1.000.000 đồng vào tài khoản của bị cáo T.
Vật chứng Cơ quan điều tra tạm giữ gồm:
- - Thu giữ của bị cáo Huy T: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exicter, màu xanh đen, BKS: 38P1 - 153.47, có số khung: RLCE55P10DY270827, số máy: 55P1-270845; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, có ốp lưng màu xanh rêu, số Imei: 355822261667156, gắn sim thuê bao: 0798.754.567 và số tiền 1.000.000 đồng;
- - Thu giữ của bị cáo Trần Văn T1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu trắng, số Imei: 357279092422251;
- - Thu giữ của bị cáo Nguyễn Hoàng P: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, BKS: 75F2 - 210.60; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax có ốp lưng màu xanh đen, số Imei: 352852111748685;
Hiện nay xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, BKS: 75F2 – 210.60, Cơ qua điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu. Các vật chứng còn lại gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exicter màu xanh đen mang BKS: 38P1 - 153.47; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax có ốp lưng màu xanh rêu, gắn sim thuê bao: 0798.754.567; số tiền 1.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax có ốp lưng màu xanh đen và đã chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/11/2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thuỷ, để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Huy T, Trần Văn T1, Nguyễn Hoàng P, Lê Văn H đã bồi thường thiệt hại về tinh thần cho anh Nguyễn Văn S2 tổng số tiền là 2.000.000 đồng, anh S2 không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm.
Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Huy T, Trần Văn T1, Nguyễn Hoàng P và Lê Văn H đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 69/CT-VKS-HTh ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố các bị cáo: Huy T, Trần Văn T1, Nguyễn Hoàng P và Lê Văn H về tội: “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 169 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm theo Bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo: Huy T, Trần Văn T1, Nguyễn Hoàng P và Lê Văn H phạm tội: Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 169; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với tất cả các bị cáo; Áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Huy T và bị cáo Trần Văn T1; Áp dụng thêm Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoàng P, để xử phạt các bị cáo: Huy Tuấn từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù, Trần Văn T1 từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù, Nguyễn Hoàng P từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù và bị cáo Lê Văn H từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của 02 bản án đối với bị cáo Trần Văn T1. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, các bị cáo Huy T, Trần Văn T1, Nguyễn Hoàng P và Lê Văn H đã bồi thường thiệt hại về tinh thần cho anh Nguyễn Văn S2 số tiền là 2.000.000 đồng, tại phiên tòa anh S2 không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exicter, màu xanh đen mang BKS: 38P1 - 153.47 cho anh Võ Đại Hải H3; Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, có ốp lưng màu xanh rêu, gắn sim thuê bao: 0798.754.567 cho bị cáo Huy T vì không liên quan đến việc phạm tội nhưng trước mắt cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án; Đề nghị trả lại số tiền 1.000.000 đồng cho bị hại là anh Nguyễn Văn S2; Đề nghị tịch thu hóa giá sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu trắng đã thu giữ của bị cáo Trần Văn T1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax, có ốp lưng màu xanh đen đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Hoàng P. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Huy T, Trần Văn T1, Nguyễn Hoàng P, Lê Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của các bị cáo Huy T, Trần Văn T1, Nguyễn Hoàng P và Lê Văn H, trình bày: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, các bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng P là bà Nguyễn Thị S1 trình bày: Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hoàng P thì đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo P vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và khi thực hiện hành vi tội phạm thì bị cáo P là người chưa thành niên nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo P.
- Ý kiến của bị hại là anh Nguyễn Văn S2 trình bày: Về hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản mà các bị cáo đã thực hiện đối với anh đã làm thiệt hại về mặt tinh thần của anh và gây nguy hiểm cho xã hội. Tuy nhiên hiện nay tinh thần của anh đã ổn định nên anh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự thì các bị cáo đã bồi thường thiệt hại về tinh thần cho anh với số tiền là 2.000.000 đồng nên anh S2 không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm. Đối với số tiền 1.000.000 đồng hiện đang tạm giữ là tài sản của anh do anh mượn của bạn nên anh S2 đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho anh S2.
- Ý kiến của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Võ Đại Hải H3 trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exicter màu xanh đen mang BKS: 38P1 - 153.47 là tài sản thuộc quyền quản lý hợp pháp của anh. Anh có cho bị cáo Huy T mượn để làm phương tiện đi lại, anh không biết việc bị cáo T sử dụng xe này vào việc phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại xe mô tô này cho anh.
- Ý kiến của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Lê Trương Quốc N1 tại phiên tòa vắng mặt nhưng tại Cơ quan điều tra anh N1 trình bày: Vào ngày 17/4/2024 anh có cho anh Nguyễn Văn S2 mượn số tiền 1.000.000 đồng nhưng không biết anh S2 sử dụng vào việc gì, số tiền này thì anh và S2 sẽ tự thỏa thuận giải quyết với nhau và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, trả hồ sơ điều tra bổ sung theo quy định của pháp luật.
[2]. Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy thu thập trong hồ sơ đều có giá trị pháp lý.
[3]. Quá trình điều tra truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng.
[4]. Căn cứ kết tội đối với các bị cáo Huy T, Trần Văn T1, Nguyễn Hoàng P và Lê Văn H: Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 17/4/2024, tại quán N2, ở tại Tổ G, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Các bị cáo Huy T, Trần Văn T1, Nguyễn Hoàng P và Lê Văn H đã có hành vi thống nhất cùng nhau dùng vũ lực để bắt cóc anh Nguyễn Văn S2 đưa đi từ quán N2, ở tại Tổ G, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế đến bãi đất trống ở phường A, thành phố H một cách bất hợp pháp, để gây áp lực nhằm mục đích chiếm đoạt, buộc anh S2 phải trả số tiền 8.000.000 đồng cho bị cáo Huy T. Anh S2 bị ép buộc nên phải mượn tiền bạn để chuyển cho nhóm của bị cáo Huy T số tiền 1.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền thì nhóm của bị cáo T mới thả anh S2 về nhà. Xét thấy hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản mà các bị cáo Huy T, Trần Văn T1, Nguyễn Hoàng P, Lê Văn H đã thực hiện đối với anh Nguyễn Văn S2 là đủ yếu tố cấu thành tội: Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Tội này được quy định tại khoản 1 Điều 169 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố các bị cáo Huy T, Trần Văn T1, Nguyễn Hoàng P và Lê Văn H, về tội: Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 169 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[5] Xét về tính chất của vụ án, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo thì thấy rằng: Vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn. Xét vai trò đồng phạm của từng bị cáo trong vụ án thì bị cáo Huy T là người có hành vi khởi xướng và thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm chính. Còn các bị cáo: Trần Văn T1, Nguyễn Hoàng P, Lê Văn H tham gia cùng bị cáo T phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức nên phải chịu trách nhiệm với vai trò thứ hai trong vụ án.
Các bị cáo Huy T, Trần Văn T1, Lê Văn H đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, còn đối với bị cáo Nguyễn Hoàng P là người chưa thành niên nhưng các bị cáo vẫn nhận thức được hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật, nhưng các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi tội phạm. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản và quyền tự do thân thể của người khác được pháp luật bảo vệ, đã gây mất trật tự công cộng nói chung và trên địa bàn nói riêng. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm để giáo dục các bị cáo và ngăn ngừa chung.
Xét về nhân thân của bị cáo Huy T, Trần Văn T1, Nguyễn Hoàng P thì thấy rằng các bị cáo có nhân thân không được tốt. Đối với bị cáo Huy T thì trước đây đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và có 01 tiền án. Còn đối với bị cáo Trần Văn T1 thì đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính, 01 lần bị kết án và đang có 01 tiền án. Còn bị cáo Nguyễn Hoàng P thì vào năm 2024 đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế khởi tố bị can về hành vi: Trộm cắp tài sản, nay các bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi tội phạm chứng tỏ các bị cáo không tự mình rèn luyện để trở thành người tốt cho xã hội. Còn đối với bị cáo Lê Văn H khi thực hiện hành vi tội phạm có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[6] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Huy T, Trần Văn T1 đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Hoàng P, Lê Văn H đều không phạm vào các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7]. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Huy T, Trần Văn T1, Nguyễn Hoàng P, Lê Văn H đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng P thì khi thực hiện hành vi tội phạm bị cáo là người chưa thành niên, do đó cần áp dụng các chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo một phần khi quyết định hình phạt.
Quan điểm của Kiểm sát viên là đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với tất cả các bị cáo; Áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Huy T và Trần Văn T1; Áp dụng thêm Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoàng P là có căn cứ.
[8]. Căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo Huy T, Trần Văn T1, Nguyễn Hoàng P, Lê Văn H đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội có tính chất nhất thời, số tiền chiếm đoạt nhỏ nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là cũng đủ tác dụng để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[9]. Về tổng hợp hình phạt: Bị cáo Trần Văn T1 đang chấp hành hình phạt tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, theo Quyết định Thi hành án số 83/2024/QĐ-CA ngày 08/10/2024 của Chánh án Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế nên cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 02 năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế để buộc bị cáo Trần Văn T1 phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.
[10]. Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Huy T, Trần Văn T1, Nguyễn Hoàng P, Lê Văn H đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về tinh thần cho bị hại là anh Nguyễn Văn S2 với số tiền là 2.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay anh S2 không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[11]. Về xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã thu giữ, gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exicter màu xanh đen mang BKS: 38P1-153.47; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax có ốp lưng màu xanh rêu gắn sim thuê bao 0798.754.567; số tiền 1.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax có ốp lưng màu xanh đen đã chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/11/2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thuỷ để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án. Hội đồng xét xử thấy rằng:
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exicter màu xanh đen mang biển kiểm soát: 38P1-153.47, có số khung: RLCE55P10DY270827, số máy: 55P1-270845, thuộc quyền quản lý hợp pháp của anh Võ Đại Hải H3, không liên quan đến tội phạm cần được trả lại cho anh Võ Đại Hải H3;
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax có ốp lưng màu xanh rêu, số Imei: 355822261667156, gắn sim thuê bao: 0798.754.567 thu giữ của bị cáo Huy T, không liên quan đến tội phạm cần được trả lại cho bị cáo Huy T nhưng trước mắt cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án;
- - Đối với số tiền 1.000.000 đồng là tài sản của bị hại là anh Nguyễn Văn S2 nên cần được trả lại cho anh Nguyễn Văn S2;
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu trắng, số Imei: 357279092422251 thu giữ của bị cáo Trần Văn T1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax, có ốp lưng màu xanh đen, số Imei: 352852111748685 đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Hoàng P là phương tiện mà các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu hóa giá sung vào Ngân sách Nhà nước.
[12]. Về án phí: Các bị cáo Huy T, Trần Văn T1, Nguyễn Hoàng P, Lê Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo: Huy T, Trần Văn T1, Nguyễn Hoàng P, Lê Văn H phạm tội: Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.
- Áp dụng khoản 1 Điều 169; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Huy T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam, là ngày 13/6/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 169; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T1 01 (một) năm tù; Tổng hợp với hình phạt 02 (H6) năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, tại bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, buộc bị cáo Trần Văn T1 phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, là ngày 23/4/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 169; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 16/8/2024.
· Áp dụng khoản 1 Điều 169; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng P 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án bản án này.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên xử:
- - Tịch thu hóa giá sung vào Ngân sách Nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu trắng, số I: 357279092422251 đã thu giữ của bị cáo Trần Văn T1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax, có ốp lưng màu xanh đen, số Imei: 352852111748685 đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Hoàng P;
- - Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exicter, màu xanh đen, mang biển kiểm soát: 38P1-153.47, có số khung: RLCE55P10DY270827, số máy: 55P1-270845 cho anh Võ Đại Hải H3;
- - Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax có ốp lưng màu xanh rêu, số Imei: 355822261667156, gắn sim thuê bao: 0798.754.567 cho bị cáo Huy T nhưng trước mắt cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án;
- - Trả lại số tiền 1.000.000 đồng cho bị hại là anh Nguyễn Văn S2.
Các vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/11/2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135, khoản 1, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc các bị cáo Huy T, Trần Văn T1, Nguyễn Hoàng P và Lê Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Báo cho các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hình sự sơ thẩm
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Phú |
Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 72/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: các bị cáo: Huy T, Trần Văn T1, Nguyễn Hoàng P, Lê Văn Hphạm tội: Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.
