|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 72/2024/HS-ST Ngày 31-10-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chúc Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thanh Xuân
- Bà Trần Thị Kim Thắm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Hoàng Panal - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân huyện C, tỉnh Hậu Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
- Nguyễn Quí T; Tên gọi khác: Không có, sinh năm: 2004, tại xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ; nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Làm hồ; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không, giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Đức V, sinh năm 1965 (đã chết) và bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1975; Bị cáo chưa có vợ con; bị cáo có 01 người em sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Tốt. Bị cáo tại ngoại, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Lê Diệp L, sinh năm 2006
Địa chỉ: Ấp N, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
Người làm chứng: Nguyễn Văn Minh K, Diệp Kim L1, Lê Thành Đ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 05 phút ngày 29/5/2024, Công an thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang, tiếp nhận nguồn tin về tội phạm của anh Lê Diệp L về việc vào sáng ngày 29/5/2024, bị mất trộm một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu vàng (gold) 256GB, có số Serial LC6W4VX30, L mua vào ngày 05/01/2024, với giá khoảng 25.900.000đồng.
Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 22 giờ ngày 28/5/2024, Lê Diệp L điện thoại rủ bị cáo Nguyễn Quí T đến nhà chơi. Khi T đến nhà L, lúc này có L, mẹ L là Diệp Kim L1, dì của L là Trần Huỳnh T1, Nguyễn Văn Minh K. L rủ T uống bia chung nhưng T không uống mà ngồi chơi. Sau khi cả nhóm uống bia đến hơn 24 giờ ngày 28/5/2024 thì nghỉ, mẹ L vào phòng ngủ, còn L và K đưa dì của L về nhà, T ở lại dọn dẹp phòng.
Sau khi đưa Trần Huỳnh T1 về nhà, L và K quay về nhà L, K khoá cửa rào và đóng cửa nhà lại. L đi vào nhà, lấy điện thoại điện cho bạn gái, đến khoản 01 giờ sáng ngày 29/5/2024, L để điện thoại Iphone 14 Pro Max màu vàng (gold) 256GB dưới chân L ở trên giường ngủ, rồi lên giường ngủ cùng Nguyễn Văn Minh K, còn T lên ghế kế bên giường để ngủ.
Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 29/5/2024, T thức dậy, thấy điện thoại của L để trên đầu giường chỗ L ngủ, T nảy sinh ý định chiếm đoạt, nên lén lút đi lại lấy chiếc điện thoại của L rồi tắt nguồn đem ra để vào hộc xe kế tay cầm điều khiển của xe môtô, biển kiểm soát 65G1-413.57 của T dựng sẵn trong nhà L. Sau đó, T đi vào lên ghế ngủ tiếp. Đến khoảng 08 giờ ngày 29/5/2024, T thức dậy rồi kêu L và K thức dậy. Lúc này, L kiểm tra phát hiện bị mất điện thoại nên cùng T và K tìm kiếm nhưng không thấy. Sau đó, T điều khiển xe đi về nhà, lấy điện thoại trộm được của L cất giấu ở sàn chén sau nhà, rồi T chạy lại nhà L cùng L đi trình báo Công an thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Sau khi tiếp nhận trình báo của L, Công an thị trấn M tiến hành đấu tranh làm rõ vụ việc, biết không thể che giấu nên Nguyễn Quí T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng thời cùng ngày 29/5/2024, T đã tự nguyện giao nộp lại điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu vàng (gold) 256GB, có số Serial LC6W4VX30 đã lấy trộm của L cho lực lượng Công an thị trấn M.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 31/KL-ĐGTS ngày 25/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc UBND huyện C kết luận định giá tài sản trong vụ “Trộm cắp tài sản” xảy ra ngày 29/5/2024 tại ấp T, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang, tổng giá trị là: 23.990.000đồng.
Tại Cáo trạng số 70/CT-VKS-HCTA ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quí T đã khai nhận toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Quí T về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; phân tích hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của các bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quí T phạm tội “Trộm cắp tài sản".
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173 điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quí T từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày 31 tháng 10 năm 2024.
Về vật chứng: Ngày 17/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 463/QĐ-ĐTTH, trả lại cho bị hại Lê Diệp L một điện thoại Iphone 14 Pro Max màu vàng (gold) 256GB, có số Serial JLC6W4VX30. Hiện đang còn tạm giữ một xe môtô biển kiểm soát 65G1-413.57 của Nguyễn Quí T đề nghị trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại điện thoại bị lấy trộm. Hiện tại không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Việc khởi tố, điều tra của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa, bị hại và những người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên việc vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người này.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo về hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tình tiết, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, chứng minh được như sau: Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 29/5/2024, tại ấp T, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang, Nguyễn Quí T đã lén lút lấy trộm một chiếc điện thoại Iphone 14 Pro Max màu vàng (gold), có số Serial JLC6W4VX30, có giá trị là 23.990.000 đồng của Lê Diệp L. Sau khi lấy trộm điện thoại, T đã tắt nguồn điện thoại và mang về nhà cất giấu ở sàn chén sau nhà. Khi bị lực lượng Công an thị trấn Một Ngàn mời làm việc, biết không thể che giấu hành vi phạm tội nên Nguyễn Quí T thừa nhận hành vi phạm tội và tự nguyện giao nộp lại chiếc điện thoại đã lấy trộm của L cho lực lượng Công an giải quyết theo quy định.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, tại thời điểm phạm tội, bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ.
Vì vậy, hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại tài sản trộm cắp, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[2.3] Về mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo T phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thực hiện hành vi phạm tội không có tổ chức.
Bị cáo có nhân thân tốt, là lao động chính trong gia đình, bị cáo có nơi cư trú ổn định nên xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Từ những cơ sở trên, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ đánh giá toàn bộ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, mức độ thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn, hối cải, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo trong vụ án mà có mức hình phạt thích hợp, đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo nhưng vẫn thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật.
[2.3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[2.4] Về xử lý vật chứng trong vụ án:
01 (một) xe môtô biển kiểm soát 65G1-413.57 thuộc quyền sở hữu của bị cáo Nguyễn Quí T và là phương tiện bị cáo dùng để đi làm nuôi gia đình nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.
[2.5] Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[3] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A là có căn cứ, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173 điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quí T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 31 tháng 10 năm 2024.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ quản lý và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Quí T cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo Nguyễn Quí T phải chấp hành hình phạt tù của Bản án này.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 65G1-413.57.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Quí T phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Quí T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Chúc Linh |
Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 72/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm.
