Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày 17/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Hương
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Phương
  • Ông Hoàng Thanh Tâm
  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hải, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
  • Đại diện VKSND thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn B - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ tên: Lê Minh Q, sinh ngày 10/4/1998 tại Đồng Nai; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Lê Ái Q1, sinh năm 1976 và bà Huỳnh Thị Bích L, sinh năm 1978; anh, chị, em ruột: có 02 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; C sống như vợ chồng với Trịnh Thị Mỹ H, sinh năm 1996, có 01 con chung sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L.

- Người làm chứng: bà Huỳnh Thị Bích L, sinh năm 1978. Địa chỉ: tổ I, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

- Người chứng kiến: ông Trần Minh T, sinh năm 1982. Địa chỉ: khu phố S, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo có mặt; người làm chứng và người chứng kiến vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Minh Q bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2021, hình thức sử dụng là hút ma túy đá (Methamphetamine). Vào khoảng 21 giờ ngày 07/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Q thuê xe taxi đến khu vực đường ray xe lửa gần ngã ba B thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai tìm gặp một người đàn ông tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 600.000 đồng được 01 gói nylon hàn kín, bên trong có chứa ma túy đá. Mua xong, Q cất giấu ma túy trong người và đón taxi về nhà tại tổ 1, ấp B, xã B, thành phố L, sau đó lấy một ít sử dụng. Số ma túy còn lại Q chia làm 3 phần, 02 phần cho vào 02 đoạn ống nhựa hút nước cắt ngắn màu trắng, hàn kín hai đầu và 01 phần còn lại vẫn để trong gói nylon cất giấu trong người. Vào lúc 12 giờ 50 phút ngày 09/01/2024, Q đang đứng trước quán C1 thuộc tổ A, khu phố S, phường B, thành phố L thì bị Công an thành phố L kiểm tra, nên Q đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan Công an 01 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá và 02 đoạn ống nhựa màu trắng cắt ngắn hàn kín hai đầu bên trong có ma túy đá. Công an thành phố L đã thu giữ, niêm phong tang vật trên và đưa Q về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Q đã thừa nhận hành vi cất giấu ma túy để sử dụng của mình.

Tại bản kết luận giám định số 82/KL-KTHS, ngày 16/01/2024, Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,2807 gam, loại: Methamphetamine.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Lê Minh Q đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình.

Về vật chứng thu giữ và xử lý: 01 gói nylon hàn kín bên trong có ma túy đá và 02 đoạn ống hút nước cắt ngắn hàn kín, bên trong có ma túy đá Q cất giấu trong túi áo trước ngực đang mặc trên người. Toàn bộ vật chứng sau giám định được hoàn lại trong gói niêm phong số 82/KL-KTHS ngày 16/01/2024. Hiện đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố L theo quy định pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 63/CT-VKSLK ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, truy tố bị cáo Lê Minh Quang về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khai mục đích tàng trữ ma túy là để sử dụng dần, ngoài ra không còn mục đích nào khác.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như bản Cáo trạng số 63/CT-VKSLK ngày 09/4/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: không đề nghị.

Vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định được hoàn lại trong gói niêm phong số 82/KL-KTHS ngày 16/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo đã nhận thức được hành vi của bản thân, bị cáo rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình, cùng vợ nuôi con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định.

[2] Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên toà, bị cáo Lê Minh Q khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Vào khoảng 12 giờ 50 phút, ngày 09/01/2024, tại trước cổng quán C1 thuộc tổ A, khu phố S, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, Công an thành phố L bắt quả tang Lê Minh Q đang cất giấu 0,2807 gam ma tuý, loại Methamphetamine trong túi áo trước ngực. Hành vi tàng trữ 0,2807 ma túy của Lê Minh Q với mục đích để sử dụng dần đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự nên cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo Lê Minh Q về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo Q, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở xử lý.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Ma túy là chất gây nghiện vô cùng nguy hiểm, không chỉ làm suy kiệt sức lao động; làm hạn chế hoặc mất đi khả năng điều khiển hành vi của người sử dụng, mà còn là nguyên nhân nảy sinh nhiều hành vi phạm tội khác. Do đó, cần có mức hình phạt đủ nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng chung trong việc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành của bản thân; khi Công an kiểm tra bị cáo đã tự nguyện giao nộp số ma túy đang cất giấu, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để đảm bảo tính khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy đối với số ma túy còn lại sau giám định.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Xét ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về phần tội danh, điều khoản truy tố, hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Lê Minh Q 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/01/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong mẫu vật sau giám định số 82/KL-KTHS ngày 16/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.

    (Vật chứng do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/4/2024).

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Minh Q phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TPLK;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TPLK;
  • - Bị cáo; Nhà tạm giữ CATPLK;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đồng Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Q phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger