Hệ thống pháp luật

TAND

TP TN

TỈNH TN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày: 20-6-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TAND TP TN, TỈNH TN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Văn Trung;

Ông Nguyễn Minh Hoàng.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Lan - Thư ký TAND TP TN, tỉnh TN.

Đại diện Viện kiểm sát TP TN, tỉnh TN tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Trà Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở TAND TP TN, tỉnh TN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2024/HSST ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

  1. Lê Quang N, sinh năm 1988; tại tỉnh LA; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp AT, xã ANĐ, huyện ĐH, tỉnh LA; chỗ ở hiện nay: Số nhà 140, đường Tr C, khu phố HT, phường HN, TP TN, tỉnh TN; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn N1, sinh năm 1956 (đã chết) và con bà Chu Tuyết M, sinh năm 1957 (đã chết); vợ: Trương Thị Bích T, sinh năm 1990 và có 02 con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2019;
  2. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, bắt để tạm giữ ngày 25-02-2024, chuyển tạm giam từ ngày 05-03-2024 tại Nhà tạm giữ Công an TP TN, tỉnh TN đến nay; có mặt tại phiên tòa.

  3. Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1991; tại tỉnh TN; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số nhà 09, hẻm 22 đường T, khu phố HT, phường HN, TP TN, tỉnh TN; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao đài; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1964 và con bà Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1963; vợ: Võ Thị Mỹ D, sinh năm 1993 và có 02 con; lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2022;
  4. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, bắt để tạm giữ ngày 25-02-2024, chuyển tạm giam từ ngày 05-03-2024 tại Nhà tạm giữ Công an TP TN, tỉnh TN đến nay; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 24-02-2024, tại hẻm 21 đường Huỳnh Tấn P, khu phố HT, phường HN, TP TN, tỉnh TN. Công an phường HN, TP TN, tỉnh TN phát hiện Nguyễn Hoàng H điều khiển xe mô tô biển số 70L7-72xx có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, phát hiện bên trong cổ tay áo bên phải của H có 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín 02 đầu, bên trong chứa tinh thể rắn trong suốt. H khai nhận tinh thể rắn trong suốt bên trong đoạn ống hút là mua ma túy của Lê Quang N tại nhà số 140 đường Tr C, khu phố HT, phường HN, TP TN, tỉnh TN với số tiền 200.000 đồng. Công an phường HN tiến hành kiểm tra nhà Lê Quang N, phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của N đang mặc có 01 đoạn ống hút hàn kín 02 đầu, bên trong chứa tinh thể rắn trong suốt và 200.000 đồng. N khai nhận tinh thể rắn trong suốt bên trong đoạn ống hút là ma túy N cất giấu nếu có ai hỏi mua thì bán, số tiền 200.000 đồng là tiền bán ma túy cho H có được nên Công an phường HN lập biên bản bắt giữ.

Quá trình điều tra Lê Quang N, Nguyễn Hoàng H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Qua xác minh bị cáo N, bị cáo H không có tài sản nên không tiến hành kê biên.

Kết luận giám định số: 412/KL-KTHS ngày 29-02-2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận: Mẫu chất bột màu trắng (Ký hiệu M1) bên trong 01 (Một) đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 0,1300 (Không phẩy một ba không không) gam.

Mẫu chất bột màu trắng (Ký hiệu M2) bên trong 01 (Một) đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 0,2511 (Không phẩy hai năm một một) gam.

Kết quả thu giữ:

  • - 01 (Một) gói niêm phong ghi số vụ 412/KL-KTHS (gói 1) có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý Nguyễn Thị Thùy Dương và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh TN, bên trong có ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Hoàng H sau giám định.
  • - 01 (Một) gói niêm phong ghi số vụ 412/KL-KTHS (gói 2) có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý Nguyễn Thị Thùy Dương và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh TN, bên trong có ma túy thu giữ của bị cáo Lê Quang N sau giám định.
  • - 01 (Một) gói niêm phong có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thanh Tâm và dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN, bên trong có 01 tờ tiền Việt Nam đồng (loại Polymer) mệnh giá 200.000 đồng, số seerri: ET 20993151.

Cáo trạng số: 73/CT-VKSTPTN ngày 29-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân TP TN, tỉnh TN truy tố bị cáo Lê Quang N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Hoàng H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại tòa, bị cáo N, bị cáo H thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.

Tại Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP TN, tỉnh TN thực hành quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Bị cáo Lê Quang N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Trong phần tranh luận, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo N từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Bị cáo Nguyễn Hoàng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Trong phần tranh luận, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo H từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù.

Căn cứ khoản 5 Điều 249; khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự: Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo N, bị cáo H vì không có khả năng thi hành.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 (Một) gói niêm phong ghi số vụ 412/KL-KTHS (gói 1) có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý Nguyễn Thị Thùy Dương và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh TN, bên trong có ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Hoàng H sau giám định.
  • - 01 (Một) gói niêm phong ghi số vụ 412/KL-KTHS (gói 2) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, Trợ lý Nguyễn Thị Thùy Dương và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh TN, bên trong có ma túy thu giữ của bị cáo Lê Quang N sau giám định.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • - 01 (Một) gói niêm phong có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thanh Tâm và dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN, bên trong có 01 tờ tiền Việt Nam đồng (loại Polymer) mệnh giá 200.000 đồng, số seerri: ET 20993151.

Bị cáo H, bị cáo N không có ý kiến tranh luận, bào chữa.

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

Bị cáo N rất hối hận về hành vi của bị cáo gây ra xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được án thấp nhất để bị cáo về lo cho vợ, con và làm lại cuộc đời.

Bị cáo H hối hận về việc bị cáo mua ma túy sử dụng, bị cáo biết sai trái, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được án thấp nhất để bị cáo về lo cho vợ, con và làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an TP TN; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân TP TN; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại Tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi của các bị cáo thể hiện:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng; phù hợp vật chứng vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:

Ngày 20-02-2024, Lê Quang N đón xe đến bến xa An Sương tìm gặp người tên Thịnh (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy, Thịnh đồng ý bán và đưa cho N 05 đoạn ống hút được hàn kín hai đầu bên trong có chứa ma túy. Sau khi mua được ma túy, N đem về tại địa chỉ nhà số 140, đường Tr C, khu phố HT, phường HN, TP TN, tỉnh TN cất giấu, sử dụng một mình hết 03 đoạn ma túy trong đoạn ống hút. Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 24-02-2024, Nguyễn Hoàng H có nhu cầu sử dụng ma túy nên điều khiển xe mô tô biển số 70L7-72xx đến nhà N hỏi mua 200.000 đồng ma túy. N đồng ý bán và đưa cho H 01 đoạn ống hút bên trong chứa ma túy, số tiền 200.000 đồng do bán ma túy có được N cất vào túi quần bên trái phía trước cùng một đoạn ống hút chứa ma túy chưa bán được. Riêng H sau khi mua được ma túy từ N đã cất giấu vào tay áo bên phải đang mặc rồi điều khiển xe về nhà. Khi đến hẻm 21 đường Huỳnh Tấn P, khu phố HT, phường HN, TP TN, tỉnh TN thì bị bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo N đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo H, đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

[3.1] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo N, bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm lan truyền tệ nạn nghiện hút, tiêm chích ma túy trong cộng đồng dân cư, là một trong những nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn khác trong xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, làm băng hoại giống nòi, là một trong những nguyên nhân gây lây lan căn bệnh HIV/AIDS và phát sinh các loại tội phạm khác.

Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo N, bị cáo H gây ra để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cân tách bị cáo N, bị cáo H ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo biết hối lỗi, sửa sai bản thân, trở người sống có ích cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt có xem xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo N, bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo N, bị cáo H vì không có khả năng thi hành.

[5] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy những tài sản không còn giá trị sử dụng gôm:

  • - 01 (Một) gói niêm phong ghi số vụ 412/KL-KTHS (gói 1) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, Trợ lý Nguyễn Thị Thùy Dương và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh TN, bên trong có ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Hoàng H sau giám định.
  • - 01 (Một) gói niêm phong ghi số vụ 412/KL-KTHS (gói 2) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, Trợ lý Nguyễn Thị Thùy Dương và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh TN, bên trong có ma túy thu giữ của bị cáo Lê Quang N sau giám định.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • - 01 (Một) gói niêm phong có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thanh Tâm và dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN, bên trong có 01 tờ tiền Việt Nam đồng (loại Polymer) mệnh giá 200.000 đồng, số seerri: ET 20993151.

[6] Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP TN: Đề nghị áp dụng điêu luật, xác định tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Đối với người có tên “Thịnh” là người bán trái phép ma túy cho bị cáo N do không rõ tên, địa chỉ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP TN, tỉnh TN chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[8] Về án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo N, bị cáo H mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:
    1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
    2. Tuyên bố bị cáo Lê Quang N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

      Xử phạt bị cáo Lê Quang N 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25-02-2024.

    3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
    4. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng H 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25-02-2024.

  2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 của Bộ Luật Hình sự:
  3. Miễn hình phạt bổ sung bị cáo Lê Quang N, bị cáo Nguyễn Hoàng H vì không có khả năng thi hành.

  4. Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  5. - Tịch thu tiêu hủy:

    • - 01 (Một) gói niêm phong ghi số vụ 412/KL-KTHS (gói 1) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, Trợ lý Nguyễn Thị Thùy Dương và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh TN, bên trong có ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Hoàng H sau giám định.
    • - 01 (Một) gói niêm phong ghi số vụ 412/KL-KTHS (gói 2) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, Trợ lý Nguyễn Thị Thùy Dương và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh TN, bên trong có ma túy thu giữ của bị cáo Lê Quang N sau giám định.

    - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

    • - 01 (Một) gói niêm phong có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thanh Tâm và dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN, bên trong có 01 tờ tiền Việt Nam đồng (loại Polymer) mệnh giá 200.000 đồng, số seerri: ET 20993151.
  6. Về án phí: Bị cáo Lê Quang N, bị cáo Nguyễn Hoàng H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo N, bị cáo H có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TN;
  • - VKSND tỉnh TN;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TN;
  • - VKSND tp Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS tp Tây Ninh;
  • - Công an tp Tây Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Trọng Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TAND TP TN, TỈNH TN về vụ án hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TAND TP TN, TỈNH TN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo N 02 (Hai) năm tù; xử phạt bị cáo H 01 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger