Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-PT

Ngày: 15 - 8 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Lâm

Các Thẩm phán: Ông Võ Thái Sơn; Ông Nguyễn Hữu Bằng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nhật Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 50/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2024/HS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 18/7/2000, tại thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Khóm T, phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Nguyễn Văn P, sinh năm: 1957 (còn sống); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1964 (còn sống); Vợ: Nguyễn Thị Kiều M, sinh năm 2000; Con Nguyễn Cẩm C, sinh năm 2017; Tiền án: không; Tiền sự: không.

Nhân thân:

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 22/2019/HS-ST ngày 19/9/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt Nguyễn Văn Đ 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, đến ngày 02/01/2020 chấp hành xong hình phạt tù.

- Ngày 22/6/2021 Nguyễn Văn Đ bị Ủy ban nhân dân xã V, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng công cụ kích điện để khai thác thủy sản, trong trường hợp không sử dụng tàu cá” với số tiền 4.000.000 đồng, đến ngày 29/6/2021 đã chấp hành xong.

Bị tạm giữ từ ngày 09/12/2023 đến ngày 15/12/2023 chuyển tạm giam cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra vụ án còn có các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác không kháng cáo hoặc không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 03/12/2023, Nguyễn Văn D cùng với Nguyễn Văn Đ sử dụng xung điện để đánh bắt thủy sản trên tuyến kênh C thuộc ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang (đối diện với chợ X thuộc xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang) thì D phát hiện nhiều vỏ nhựa, máy thủy động cơ đậu dưới kênh. Đến khoảng 20 giờ ngày 04/12/2023, Đ điện thoại rủ D “đi kiếm vỏ máy bán lấy tiền xài” thì D nói “đi thì đi”, sau đó, Đ điện thoại cho Nguyễn Hoàng G, hỏi “có đi làm hông (đi lấy trộm tài sản)” thì G hỏi “ở đâu”, Đ kêu G chạy xuống xuống đậu ở chợ X rồi đi, tiếp đến G điện cho D hỏi “tối có đi không (lấy trộm tài sản)”, thì D nói có. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, G chạy xuống nhựa màu xanh trắng, dài 4,5m gắn máy thủy động cơ (máy xăng) hiệu Honda 20HP. Đến chợ X, G điện thoại cho D hỏi ra chưa đang đợi ở chợ X thì D lấy xuống nhựa màu xanh gắn máy thủy động cơ (máy xăng) hiệu Hinota 20HP chạy ra chợ X gặp G. Tại đây, D và G nói chuyện khoảng 30 phút thì Đ điện thoại cho G kêu xuống nhà có công chuyện nên G chạy xuống máy đến nhà cha ruột của Đ thuộc khóm F, phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng, khi đến nơi G thấy Đ đang sửa máy, sau đó Đ xin xăng của G, sửa máy khoảng 60 phút thì xong Đ kêu Lâm Văn K, “Kha ơi xuống đi”, nghe Đ kêu nên K biết Đ rủ đi lấy trộm tài sản nên xuống xuồng cùng đi với Đ còn G đi một mình, cả ba cùng nhau đến chợ X gặp D. Tại đây cả nhóm ngồi nói chuyện một lúc thì D chỉ hướng có vỏ máy cho tất cả cùng biết. Lúc này khoảng 00 giờ ngày 05/12/2023, D bơi xuồng đi trước theo hướng kênh Cao Hột L, G bơi xuồng theo sau, Đ và K bơi cuối cùng, khi bơi được khoảng 300m thì cả nhóm phát hiện 01 vỏ nhựa loại Composite màu xanh trắng dài 9,9m trên vỏ có 01 máy thủy động cơ (máy dầu) hiệu RV 140 và nhiều miếng ván gỗ loại tràm bông vàng của anh Nguyễn Văn D1, nên K nhảy qua bên mũi vỏ nhựa, Đ mở dây lái, G mở dây mũi còn Dững thì bơi xuồng ra hướng chợ X trước để chờ. Sau khi lấy được vỏ máy của anh D1 thì K ngồi ở mũi bơi vỏ, Đ và G kè hai bên phụ đẩy vỏ tiếp K ra tới chợ X. Khi ra tới chợ X thì G lấy tay quay bên xuồng của Đ đưa cho K, Đ kêu K quay máy dầu chạy về hướng chợ V thuộc huyện H, tỉnh Bạc Liêu để kiếm chỗ bán, Đ kêu D chạy xuống máy về nhà lấy xe mô tô rồi cùng Đ đi bán vỏ máy còn G thì chạy xuống máy về nhà.

Khi về nhà, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu trắng đỏ biển số 95E1-629.74 còn Đ thì điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Airblade màu vàng đen biển số 61D1-439.00 của K cùng chạy về hướng chợ V, đến khoảng 03 giờ ngày 05/12/2023, Đ và D điều khiển xe mô tô đến gần cống V thì gặp K vừa chạy vỏ máy đến, sau đó D và Đ xuống vỏ ném hết ván gỗ xuống sông, Đ chạy vỏ máy qua chợ V kiếm chỗ bán nhưng do buồn ngủ nên Đ đậu vỏ lại ngủ còn K, D lên bờ chạy xe mô tô ghé vào quán cà phê đợi. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, Đ điện thoại cho D nói bán không được nên kêu D, K chạy xe lại gần cầu T để đổi cho Đ, Đ kêu K chạy vỏ máy về chợ N1 thuộc huyện H, tỉnh Bạc Liêu để kiếm chỗ bán, Đ và D chạy xe mô tô trên lộ. Khi đến chợ N1, D ghé vào quán cà phê còn Đ ghé tiệm Lý K1 và kêu K chạy vỏ máy lại, tại đây Đ gặp chủ tiệm là anh Lý Minh N hỏi bán vỏ máy nhưng anh N nói phải có giấy tờ đầy đủ hoặc có cha mẹ đứng ra bán thì mới mua nên Đ kêu K chạy lại quán cà phê kêu Dững lại nói chuyện nhưng anh N vẫn không mua. Sau đó, D bơi vỏ máy qua bờ đối diện để mua thức ăn còn K và Đ chạy xe theo, Đ thấy có tiệm sửa máy động cơ cách tiệm L1 khoảng 200m nên Đ kêu D chạy xe mô tô qua hỏi chủ tiệm có mua không, còn K lúc này thì chạy xe mô tô đậu cách chợ N1 khoảng 01km để đợi Đ và D. Khi D qua gặp chủ tiệm là anh Trần Văn C1 để hỏi mua vỏ, máy thì anh C1 đồng ý mua máy dầu, D kêu Đ bơi vỏ máy qua bán cho anh C1, sau khi thỏa thuận thì anh C1 chỉ đồng ý mua máy dầu với giá 5.500.000 đồng, D là người nhận tiền từ anh C1, còn vỏ nhựa không bán được nên Đ bơi vỏ cột dây bỏ đại cách tiệm L1 khoảng 100m. Sau đó, D điều khiển xe mô tô chở Đ ghé quán cà phê gần cầu H để uống cà phê, tại đây D đưa cho Đ 3.500.000 đồng, D giữ 2.000.000 đồng, khi K vừa đến quán cà phê thì D và Đ cũng ra xe cùng nhau đi về nhà, trên đường về K hỏi bán được bao nhiêu thì Đ nói bán máy dầu được 2.000.000 đồng, K kêu đưa tiền đổ xăng thì D đưa cho K 200.000 đồng, khi về đến gần cầu chữ Y thuộc xã N, huyện H thì cả 03 dừng xe lại để chia tiền, D lấy từ số tiền 2.000.000 đồng chia cho K 200.000 đồng, K xin thêm 50.000 đồng đổ xăng, tổng cộng K được chia 450.000 đồng, D chia cho Đ 400.000 đồng, chia cho G 400.000 đồng nhưng không có mặt G nên Đ giữ dùm. Trên đường về tới thị xã N, Đ và D ghé vô quán uống cà phê thì Đ cho D thêm 1.200.000 đồng, ngày hôm sau Đ đưa cho G 200.000 đồng, G lấy mua gà nấu cháo cho tất cả cùng ăn còn lại 200.000 đồng thì Đ chưa đưa lại cho G. Sau khi phát hiện bị mất trộm vỏ, máy thì anh Nguyễn Văn D1 đã đến Công an xã T trình báo vụ việc.

Tại kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 13/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận (bút lục 146–147):

  • 01 chiếc vỏ nhựa màu xanh, trắng, có sọc đỏ hai bên hông, chiều dài 9,9m đã qua sử dụng có giá trị là 5.466.000 đồng.
  • 01 máy thủy động cơ (máy dầu) nhãn hiệu RV 140 có bình dầu bị móp, phía sau có gắn hộp số và có gắn dàn láp bằng kim loại có chân vịt ba cánh đã qua sử dụng có giá trị là 6.500.000 đồng.

Tổng cộng là 11.966.000 đồng.

Tại kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 27/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận (bút lục 153-154): 3.748m ván gỗ tràm bông vàng có giá trị là 2.000.000 đồng.

Như vậy, tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn D, Nguyễn Hoàng G và Lâm Văn K chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn D1 là 13.966.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ và Lâm Văn K cùng nhau thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản xác định được bị hại, cụ thể:

Vào khoảng 21 giờ ngày 22/11/2023, Đ điều khiển xuồng máy của mình đi cùng K chạy theo các tuyến kênh trên địa bàn xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang để lấy trộm tài sản, khi Đ điều khiển xuồng máy đến ấp D, xã T, huyện L thì phát hiện 01 giàn máy xới đất để cạnh mé kênh Nhật Tảo của anh Nguyễn Văn G1, trên giàn xới đất có gắn 01 máy thủy động cơ (máy dầu) nhãn hiệu Kubota RT165, màu cam. Sau đó, Đ lên mở lấy đầu máy dầu và cùng K khiêng bỏ xuống xuồng. Sau khi lấy trộm xong, Đ điều khiển xuồng máy về nhà cha ruột tên Nguyễn Văn P tại khóm F, phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Đ là người bán đầu máy dầu, tuy nhiên Đ không nhớ bán bao nhiêu tiền và bán cho ai nên Cơ quan điều tra chưa thu hồi được tang vật vụ án.

Tại Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 12/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện L kết luận: 01 (một) đầu máy thủy động cơ (máy dầu) nhãn hiệu Kubota RT165, màu cam. Tại vị trí bình gió có hàn thêm một đoạn ống tuýp sắt dài khoảng 15cm có giá trị là 9.600.000 đồng (bút lục 300-301).

Ngoài ra, Nguyễn Văn Đ, Lâm Văn K và Nguyễn Văn D thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản nhưng chưa xác định được bị hại, cụ thể: Khoảng 20 giờ, không nhớ ngày cụ thể (trước ngày 05/12/2023 khoảng 10-15 ngày), Đ và K đi bằng xuồng máy từ thị xã N, tỉnh Sóc Trăng chạy qua xã T, huyện L thì gặp D đang đi xiệt cá, D chỉ đường cho Đ và K đến cầu L nơi đậu vỏ máy, sau đó Dững bơi xuống đi, Đ khiêng máy xăng qua xuồng của Đ rồi chạy máy xăng về đậu dưới trại ghe nhà cha ruột Đ. Sáng hôm sau, Đ bán máy xăng được 3.5000.000 đồng nhưng không nhớ bán cho ai ở đâu nên Cơ quan điều tra chưa thu hồi được tang vật vụ án.

Sau khi bán được tiền, Đ chia cho D 1.000.000 đồng, K 1.200.000 đồng. Cơ quan điều tra đã xác minh truy tìm bị hại nhưng đến nay vẫn chưa xác định được bị hại và không thể tiến hành định giá tài sản nên chưa có căn cứ để xử lý ba bị cáo trong vụ trộm cắp tài sản này.

Nguyễn Văn Đ và Lâm Văn K thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản nhưng chưa xác định được bị hại, cụ thể:

  • Vụ thứ nhất: Khoảng 21 giờ không nhớ ngày cụ thể (cách vụ trộm do D, Đ, K cùng thực hiện khoảng 02 ngày), Đ và K đi bằng xuồng máy của Đ trên tuyến kênh H 3 thuộc xã T, huyện L rồi vào kênh nhỏ thì phát hiện 01 máy thủy động cơ (máy xăng) nhãn hiệu Honda 5.5HP nên Đ khiêng máy xăng qua xuồng, Đ chạy về nhà đem bán máy xăng cho ghe phế liệu nhưng bán cho ai, bao nhiêu tiền và chia cho K bao nhiêu thì không nhớ. Cơ quan điều tra đã xác minh truy tìm bị hại nhưng đến nay vẫn chưa xác định được bị hại vụ án và không thể tiến hành định giá tài sản nên chưa có căn cứ để xử lý hai bị cáo trong vụ trộm cắp tài sản này.
  • Vụ thứ hai: Khoảng 21 giờ không nhớ ngày cụ thể (cách vụ thứ nhất khoảng 4-5 ngày), Đ và K đi bằng xuồng máy của Đ đến khu vực thuộc xã T, huyện L thì phát hiện 01 máy thủy động cơ (máy xăng) màu vàng và 01 vỏ nhựa Composite dài khoảng 03m, sau khi lấy xong Đ chạy xuống máy trộm được, K chạy xuống máy của Đ về nhà, sau đó Đ bán vỏ, máy cho ai, bao nhiêu và chia cho K bao nhiêu không nhớ. Cơ quan điều tra đã xác minh truy tìm bị hại nhưng đến nay vẫn chưa xác định được bị hại vụ án và không thể tiến hành định giá tài sản nên chưa có căn cứ để xử lý hai bị cáo trong vụ trộm cắp tài sản này.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2024/HS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/12/2023.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo không kháng cáo khác, phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 09/05/2024, bị cáo Nguyễn Văn Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và yêu cầu làm rõ các tình tiết không đúng với tội danh của bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo cho rằng bị cáo không có thực hiện vụ trộm ngày 22/11/2023 cùng với K và việc bị cáo khai nhận trong quá trình điều tra là do điều tra viên hướng dẫn bị cáo khai.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về giải quyết vụ án:

Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo là đúng về thẩm quyền, thời hạn theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà bị cáo thay đổi yêu cầu kháng cáo là phù hợp với quy định của pháp luật, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Xét thấy, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp tình tiết chứng cứ nào mới để xem xét cho bị cáo. Mức án 02 năm tù mà cấp sơ thẩm tuyên phạt đối với bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Những lý do mà bị cáo nêu ra tại phiên tòa là không có căn cứ nên không chấp nhận. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mà bị cáo đã gây ra, cấp sơ thẩm đã cân nhắc xem xét đầy đủ các tình tiết có trong hồ sơ vụ án để tuyên xử mức án tương xứng, phù hợp với quy định pháp luật. Vì vậy, kháng cáo của bị cáo là không có cơ sở để chấp nhận.

Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 BLTTHS. Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Văn Đ.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Trình bày lời bào chữa: Bị cáo không bào chữa.

Phát biểu đối đáp: Không.

Nói lời sau cùng: Vụ của Nguyễn Văn G1 cùng bị cáo K, bị cáo không tham gia.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về đơn kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo đúng theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo không thừa nhận có tham gia lần trộm cắp tài sản cùng với K vào ngày 22/11/2023. Đối với các hành vi còn lại, bị cáo thừa nhận theo như nội dung của bản án sơ thẩm. Xét thấy việc bị cáo cho rằng bị cáo khai nhận hành vi trộm cắp ngày 22/11/2023 cùng với K là do Điều tra viên hướng dẫn, nhưng lại không đưa ra được chứng cứ nào để chứng minh nên không có cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ, lời thừa nhận của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm thu thập trong hồ sơ vụ án, qua đó đã có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 00h ngày 05/12/2023, bị cáo Nguyễn Văn Đ cùng các bị cáo G, K, D lén lút thực hiện trộm cắp 01 vỏ máy dầu của anh Nguyễn Văn D1 với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 13.966.000 đồng. Ngoài ra, Cơ quan điều tra cũng xác định được vào ngày 22/11/2023, bị cáo Đ và K còn thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản khác là đầu máy dầu của anh Nguyễn Văn G1, theo kết luận định giá tài sản là 9.600.000 đồng, tổng chiếm đoạt của các bị hại số tiền là 23.566.000 đồng. Bên cạnh đó, các bị cáo còn thừa nhận thực hiện các vụ trộm khác nhưng không xác định được bị hại nên không xem xét trách nhiệm.

Với hành vi và số tiền bị cáo chiếm đoạt mà Cơ quan điều tra chứng minh được đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Cấp sơ thẩm truy tố, xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, từng 01 lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản và bị xử phạt vi phạm hành chính, nhưng bị cáo vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, cho thấy ý thức xem thường pháp luật của bị cáo nên cần phải có hình phạt nghiêm để răn đe đối với bị cáo. Trong lần phạm tội này bị cáo phạm tội có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm còn xem xét các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả theo điểm b khoản 1 và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án 02 năm tù là không nặng. Tại phiên tòa bị cáo có cung cấp không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới, các tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng đã được cấp sơ thẩm áp dụng đầy đủ. Xét thấy với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo mức án 02 năm tù là đã tương xứng, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[4]. Với những nhận định như nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5]. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm do không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật, do kháng cáo không được chấp nhận..

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
  3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/12/2023.

  4. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  5. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

  6. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - CA tỉnh Hậu Giang (PV06; PC11);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang;
  • - TAND, VKSND, CQĐT, Chi cục THADS huyện Long Mỹ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hoàng Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-PT ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về trộm cắp tài sản (phúc thẩm)

  • Số bản án: 72/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger