TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST Ngày 30-7-2024 Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Diễm Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Vững
- Ông Lê Hoàng Thọ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kin Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tháp Mười xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 256/2024/TLST-HNGĐ ngày 24/5/2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2024/QÐST-HNGĐ ngày 28/6/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Đ, sinh năm 1993 (Có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn: Anh Huỳnh Văn Đ1, sinh năm 1992 (Vắng mặt không lý do);
Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Lê Thị Đ là nguyên đơn trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Đ và anh Đ1 sau thời gian quen nhau, tìm hiểu và được hai bên gia đình chấp thuận về sống chung không có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/7/2012. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian 03 năm gần đây vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung, chị và anh Đ1 đã sống ly thân gần 03 năm nay. Nay chị Đ nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Văn Đ1.
- Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Văn T, sinh ngày 18/5/2012 và Huỳnh Thị Mỹ D, sinh ngày 05/12/2016. Sau khi ly hôn, chị Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con chung và không yêu cầu anh Đ1 cấp dưỡng nuôi con.
- Về chia tài sản: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
Bị đơn anh Huỳnh Văn Đ1 trong vụ án đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác của Tòa án nhưng quá thời hạn luật định mà không có văn bản ghi ý kiến gửi cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện của nuyên đơn về việc yêu cầu được ly hôn, nuôi con khi ly hôn với bị đơn, ngoài ra nguyên đơn và bị đơn không có yêu cầu nào khác nên quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Huỳnh Văn Đ1 có địa chỉ ở ấp B, xã H, huyện T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về xét xử vắng mặt: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Quan hệ hôn nhân: Chị Đ và anh Đ1 qua tìm hiểu, được hai bên gia đình chấp thuận và tự nguyện kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 58 ngày 25/7/2012 nên quan hệ hôn nhân giữa chị Đ, anh Đ1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, chị Đ cho rằng thời gian gần đây vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung nên nói chuyện với nhau là xảy ra cự cãi làm cho không khí gia đình lúc nào cũng căng thẳng, mâu thuẫn dẫn đến trầm trọng làm mục đích hôn nhân không đạt được, chị và anh Đ1 đã sống ly thân gần 03 năm nay. Bị đơn anh Huỳnh Văn Đ1 đã được Tòa án thông báo về yêu cầu khởi kiện của chị Đ và cũng được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để hòa giải nhưng anh Đ1 vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản ý kiến trả lời theo thông báo của Tòa án. Tòa án cũng đã Thông báo cho anh Đ1 biết về kết quả phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng anh Đ1 cũng tiếp tục không có ý kiến, như vậy là anh Đ1 biết được việc chị Đ khởi kiện xin ly hôn đối với anh nhưng anh Đ1 vẫn mặc nhận, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị Đ. Do đó chứng tỏ anh Đ1 đã không còn tình cảm đối với chị Đ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Đ và anh Đ1 là đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị Lê Thị Đ được ly hôn với anh Huỳnh Văn Đ1 là phù hợp.
Quan hệ nuôi con: Chị Đ và anh Đ1 có hai con chung là Huỳnh Văn T, sinh ngày 18/5/2012 và Huỳnh Thị Mỹ D, sinh ngày 05/12/2016. Hiện hai con chung đang do chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, khi ly hôn chị Đ yêu cầu được nuôi hai con chung. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi ly thân nhau cho đến nay, hai con chung đang sống với chị Đ ổn định. Chị Đ cũng có điều kiện để nuôi dạy con tốt. Anh Đ1 cũng không có yêu cầu nuôi con chung. Lời khai của T và Mỹ D yêu cầu được sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cho chị Đ nuôi hai con chung là phù hợp, đảm bảo cuộc sống cho các con chung. Chị Đ tự nguyện không yêu cầu anh Đ1 phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về quan hệ tài sản: Chị Đ trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về quan hệ nợ: Chị Đ trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Lê Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 51, Điều 53, khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Đ.
Quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Đ được ly hôn với anh Huỳnh Văn Đ1.
Quan hệ nuôi con: Chị Lê Thị Đ được quyền nuôi dưỡng con chung Huỳnh Văn T, sinh ngày 18/5/2012 và Huỳnh Thị Mỹ D, sinh ngày 05/12/2016 (Hiện con chung đang do chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng). Chị Đ không yêu cầu anh Đ1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của người đó..
Về quan hệ tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về quan hệ nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Lê Thị Đ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai số 0010620 ngày 20/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Chị Đ đã nộp đủ án phí.
Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt, có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Lê Văn Vững – Lê Hoàng Thọ | Huỳnh Thị Diễm Hương |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Diễm Hương |
Bản án số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 72/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHO LH
