Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 08 - 7 - 2024

V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Đức Quang

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể

Ông Bùi Văn Hồng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh Giang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 41/2023/TLST- HNGĐ, ngày 14 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2023/QĐXX - HNGĐ ngày 02/10/2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Võ T, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh - có mặt.
  2. Bị đơn: Chị Li S, C-H, sinh năm 1986; Nơi cư trú hiện nay: Tầng E, số C, khu C, đường S, quận Đ - Trung Quốc (Đài Loan) - vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn xin ly hôn, bản tự khai và biên bản làm việc, nguyên đơn anh Võ T trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Li S, C – H sau một thời gian quen biết, tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 11/11/2016 tại UBND huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Sau một thời gian hạnh phúc thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân cả hai thường xuyên xảy ra cãi vả và bất đồng quan điểm sống. Mặt khác, do khoảng cách về địa lý khi chị Li S, C – Hsien sinh sống và làm việc tại Đài Loan ít có thời gian về Việt Nam. Mặc dù hai người đã nhiều lần cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả và đến nay không còn liên lạc gì với nhau. Nay anh Võ T xác định tình cảm vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể níu kéo, hàn gắn nên anh yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với Li S, C – Hsien để hai bên sớm ổn định cuộc sống.

1

Về con chung: Theo anh Võ T, trong quá trình chung sống vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh Võ T cung cấp thông tin, hiện nay chị Li S, C – Hsien đang sinh sống, làm việc tại Đài Loan, đồng thời anh T cũng cung cấp thông tin về địa chỉ của chị Li S, C - Hsien tại Đài Loan. Ngày 02/10/2023, Tòa án đã có văn bản gửi Bộ Tư pháp Việt Nam để thực hiện việc ủy thác Tư pháp đối với chị Li S, C - H theo đúng quy định.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự; phân tích nội dung vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Võ T. Về tình cảm: Xử cho anh Võ T được ly hôn với chị Li S, C - Hsien; về con chung, về tài sản chung không có và không yêu cầu nên miễn xem xét. Về án phí và lệ phí tố tụng: nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Li S, C -H là người có Quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan), tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án nguyên đơn anh Võ T trình bày chị Li S, C -H hiện đang sinh sống tại Tầng E, số C, khu C, đường S, quận Đ - Đài Loan (Trung Quốc). Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ và ấn định thời gian mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thời gian mở phiên tòa. Việc gửi các văn bản tố tụng của Tòa án được thực hiện dịch thuật theo đúng quy định và gửi Bộ Tư pháp Việt Nam thực hiện ủy thác tư pháp theo Điều 476 BLTTDS năm 2015; các Điều 10, 11 Luật tương trợ tư pháp 2007; Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC của Bộ Tư pháp - Bộ N - Tòa án nhân dân Tối cao ngày 19/10/2016 nhưng đến nay chị Li S1, C – H vẫn không có bất cứ phản hồi nào.

    Về phiên tòa giải quyết việc ly hôn giữa anh Võ T và chị Li S, C – H1 đã được mở lần thứ hai. Tuy nhiên, tại phiên tòa anh Võ T có mặt, còn chị Li S, C – Hsien vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị Li S, C – H.

  3. Về nội dung:
    • [2.1] Về tình cảm: Anh Võ T và chị Li S, C – Hsien tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào vào ngày 11/11/2016 tại UBND huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Chị Li S, C – H1 là người có Quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan), việc đăng ý kết hôn giữa anh Võ T và chị Li S, C - Hsien là đảm bảo quy định pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, sau khi kết hôn chị Li S, C – Hsien về Đài Loan làm việc và sinh sống, do có sự khác biệt về lối sống, văn hóa nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, đến nay hai người còn không liên lạc và quan tâm đến nhau. Xét thấy mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, vợ chồng tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, chia sẻ lẫn nhau nhưng hôn nhân giữa anh Võ T và chị Li S, C

2

Hsien không đạt được mục đích đó. Mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và đến nay cả hai người không còn liên lạc gì với nhau. Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Võ T với chị Li S, C - H để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.

  • [2.2]. Về con chung: Anh Võ T và chị Li S, C – Hsien không có con chung nên không xem xét.
  • [2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
  1. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
  2. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, 56, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình; các Điều 28, 37, 227, 273, 469, khoản 2 Điều 470, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao; khoản 5 Điều 27, Điều 44 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Võ T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Võ T được ly hôn với chị Li S, C – H.
  2. Về án phí và lệ phí ủy thác tư pháp: Anh Võ T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) lệ phí ủy thác tư pháp nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000490 ngày 10/3/2023 và 200.000 đồng tạm ứng lệ phí ủy thác theo biên lai thu tiền số 0000603 ngày 06/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND huyện Kỳ Anh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Hồ Đức Quang

3

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình (ly hôn)

  • Số bản án: 72/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình (Ly hôn)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ T xin ly hôn Li-Chih Seng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger