TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG – THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:72/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11-9-2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyên Vy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thị Út
- Ông Lê Huỳnh Sinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang- Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Yến- Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại hội trường xử án, Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 07/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thu T, sinh năm: 1983
Địa chỉ: Khu phố E, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. (Có mặt)
Bị đơn: Ông Phạm Trọng L, sinh năm: 1983.
Địa chỉ: Khu phố B, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 03/01/2024 và quá trình tố tụng, Nguyên đơn bà Võ Thị Thu T trình bày: Bà và ông Phạm Trọng L sau một thời gian tìm hiểu đã tiến đến hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận theo giấy chứng nhận kết hôn số 58 ngày 30 tháng 6 năm 2020. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2023 do công việc kinh doanh bị sự cố, ông L có lời lẽ xúc phạm bà; ông L thường đi sớm về khuya, đánh đập bà; ngoài ra, ông còn nhắn tin với người phụ nữ khác quá giới hạn của một người đã có gia đình. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Phạm Trọng L.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Võ Khánh L1, sinh ngày 23/4/2019. Hiện bà đang là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con Khánh L1; bà không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tố tụng, bị đơn ông Phạm Trọng L trình bày: Vợ chồng ông kết hôn năm 2020, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Quá trình chung sống, vợ chồng có quá nhiều cuộc cãi vã. Do cả hai hết tình cảm, không thể chung sống cùng nhau được nữa nên ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Võ Khánh L1, sinh ngày 23/4/2019. Khi ly hôn, ông đồng ý giao con cho vợ trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Nguyên đơn, Bị đơn đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đúng thành phần, xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Nguyên đơn yêu cầu được ly hôn, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Phạm Võ Khánh L1, sinh ngày 23/4/2019. Tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, Bị đơn đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn có địa chỉ thường trú tại Khu phố B, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang- T theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Tại phiên tòa, Bị đơn tiếp tục vắng mặt dù đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Bị đơn.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Võ Thị Thu T, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Quan hệ hôn nhân giữa bà Võ Thị Thu T và ông Phạm Trọng L được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Tại phiên tòa, bà Võ Thị Thu T giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn ông Phạm Trọng L. Nhận thấy, bà T, ông L đều xác định mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm không còn nên không thể chung sống với nhau được nữa. Điều này, chứng tỏ hôn nhân của ông, bà lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Nguyên đơn bà Võ Thị Thu T.
[2.3] Về giao người trực tiếp nuôi con:
Bà Võ Thị Thu T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phạm Võ Khánh L1.
Xét thấy, cháu Phạm Võ Khánh L1, sinh ngày 23/4/2019 đang được bà T chăm sóc tốt, đảm bảo về sức khỏe cũng như việc học tập. Ông L cũng đồng ý giao con Khánh L1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi con của Nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
[2.4] Về án phí: Bà Võ Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, phù hợp với những nhận định trên, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Võ Thị Thu T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Thu T được ly hôn ông Phạm Trọng L.
- Về giao người trực tiếp nuôi con: Bà Võ Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phạm Võ Khánh L1, sinh ngày 23/4/2019.
Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với con chung, không ai được ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.
- Về án phí: Bà Võ Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0000699 ngày 03/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang- T. Bà Võ Thị Thu T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt Nguyên đơn; quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng Bị đơn vắng mặt; quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nguyên Vy |
Bản án số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 72/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: thủy lợi
