trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ MỸ

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/DS-ST

Ngày 20-6-2024

V/v: "Tranh chấp về hợp đồng góp hụi”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hòa;
  2. Ông Nguyễn Lộc.

-Thư ký phiên tòa: Ông Võ Tấn Tiến, là thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

-Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2023/TLST-DS, ngày 09 tháng 10 năm 2023, về việc: “Tranh chấp về hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 946/2024/QĐXXST-DS, ngày 14 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên Toà số 1073/2024/QĐST-DS, ngày 30 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Thị Lệ X, sinh năm 1970 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Trú tại: Thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970 (Vắng mặt).

Trú tại: Thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

-Bà Trần Thị T1, sinh năm 1968 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

-Ông Đỗ Ngọc M, sinh năm 1968 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Đồng trú tại: Thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Vắng mặt tại Tòa hôm nay, nhưng theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 3 năm 2023, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Võ Thị Lệ X trình bày: Giữa bà và bà Nguyễn Thị T quen nhau do bà kinh doanh mua bán đồ điện, còn bà T mua bán hàng tạp hóa, nên cả hai thường xuyên mua bán hàng với nhau, bà bắt đầu chơi hụi với bà T từ năm 2021, bà T là chủ hụi, còn bà là con hụi, chơi trong dây hụi 13 người, bà tham gia chơi với bà T hai chân hụi và đã nộp cho bà T được 27.000.000₫ và choàng một chân hụi (đóng một chân hụi riêng cho người đã hốt hụi) cho bà T là 33.000.000đ, tổng cộng bà đóng hụi cho bà T 3 chân hụi là 60.000.000₫ gồm: Một chân hụi tham gia vào ngày 24/5/2021 (AL) và một chân hụi tham gia vào ngày 24/6/2021 (AL), mỗi chân hụi hàng tháng đóng 3.000.000 đồng, còn choàng chân hụi vào ngày 12/7/2021 (AL).

Đến ngày 24/10/2021 (AL) bà T tuyên bố vỡ hụi, thời điểm này bà T nhận tiền hụi của bà tổng cộng 60.000.000đ, nên lúc này bà xuống nhà bà T đòi lại tiền hụi, thì bà T hẹn khi nào chồng con bà T làm ăn có tiền, bà sẽ trả lại cho bà, chứ bây giờ bà không còn khả năng trả nợ, lúc đó bà cũng thống nhất cho bà T trả dần, đồng thời bà T viết giấy nhận nợ cùng ngày 24/10/2021 xác nhận còn nợ bà 60.000.000 đ và yêu cầu bà cho bà T khấu trừ một chân hụi của bà Trần Thị T1, trú tại: Thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định với số tiền 25.000.000đ. Bà đồng ý để bà T1 trả số tiền 25.000.000đ cho bà. Giấy xác nhận tiền nợ hụi này bà đã cung cấp cho Tòa để làm chứng cứ khởi kiện bà Nguyễn Thị T.

Sau đó bà đến gặp bà T1, thì bà Thân xác n còn nợ bà T một chân hụi 25.000.000 đ, nên tháng sau bà T1 trả cho bà 25.000.000đ, sau khi bà T1 trả tiền cho bà xong, bà có điện thoại thông báo cho bà T biết, số tiền còn lại 35.000.000đ, cho bà T trả dần, nhưng sau đó bà T không chịu trả cho bà, mặc dù bà đã đòi nợ nhiều lần, hiện nay bà T vẫn kinh doanh làm ăn bình thường vẫn còn nhiều tài sản, nhưng chây ỳ không chịu trả lại tiền hụi cho bà.

Vì vậy nay bà khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị T trả cho vợ chồng bà số tiền 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng), bà không yêu cầu tính lãi. Bà xác định, số tiền hụi này bà chơi với cá nhân và T không liên quan gì đến chồng bà T, nên bà chỉ khởi kiện yêu cầu một mình bà T trả nợ cho vợ chồng bà.

Vắng mặt tại Tòa hôm nay theo biên bản lấy lời khai đương sự, ngày 30/10/2023, quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T1 trình bày: Giữa bà và bà Võ Thị Lệ X là hàng xóm sống gần nhau, bà quen biết bà Nguyễn Thị T, do bà T mua bán hàng ở chợ, bà thường xuyên mua hàng của bà T nên cả hai quen nhau từ đó, bà T rủ bà tham gia chơi hụi vào năm 2021 do bà T làm chủ hụi, bà là con hụi, chơi trong dây hụi 13 người, dây hụi này không có bà X tham gia, bình quân mỗi tháng đóng 3.000.000đ, bà tham gia đóng 04 tháng hụi, rồi được ưu tiên hốt hụi trước, khi bà hốt tiền hụi, thì còn nợ của bà T tiền hụi phải đóng là 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng), nhưng sau khi bà hốt tiền hụi xong, thì tháng 10/2021 bà T tuyên bố vỡ hụi, nên các con con hụi không đóng tiền hụi cho bà T nữa, đến thời điểm bà T vỡ hụi thì tiền hụi bà còn nợ bà T là 25.000.000₫.

Khi bà X xuống nhà đòi tiền hụi của bà T, thì bà Tư thông b cho bà biết là hiện tại bà T còn nợ bà X 60.000.000 đ (Sáu mươi triệu đồng), nên bảo số tiền hụi bà còn nợ bà T 25.000.000 đ, thì trả trực tiếp cho bà X, để khấu trừ vào số tiền nợ 60.000.000₫ mà T nợ của bà X.

Khoảng tháng sau bà đến nhà bà X trả số tiền 25.000.000 đ, khi trả xong số tiền này bà điện thoại báo cho bà T biết, bà T đồng ý không nói gì thêm.

Bà xác định hiện nay bà không còn nợ gì bà Nguyễn Thị T nữa và bà cũng đã thực hiện xong việc trả nợ thay cho bà T số tiền 25.000.000₫.

Theo biên bản lấy lời khai đương sự, ngày 30/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Ngọc M trình bày: Ông là chồng bà Võ Thị Lệ X, ông cũng thống nhất với nội dung yêu cầu khởi kiện bà X là yêu cầu bà Nguyễn Thị T trả cho vợ chồng ông số tiền góp hụi 35.000.000đ, không yêu cầu tính lãi.

-Tại phiên Toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ phát biểu: Về thủ tục tố tụng Tòa án đã tiến hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vợ chồng bà Võ Thị Lệ X, ông Đỗ Ngọc M, buộc bà Nguyên Thị T2 có nghĩa vụ trả cho vợ chồng bà X, ông M số tiền hụi 35.000.000đ, và buộc bà T2 phải chịu án theo quy định pháp luật, đồng thời hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho bà X.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết của tòa án và thủ tục tố tụng:

Đây là vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng góp hụi, là thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo qui định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án này có bị đơn bà Nguyễn Thị T đang cư trú tại huyện P, tỉnh Bình Định, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định theo qui định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập bị đơn bà Nguyễn Thị T hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên Tòa, nhưng bà T vắng mặt không có lý do, cũng không trở ngại khách quan, còn bà X, bà T1, ông M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà X, bà T, bà T1 và ông M.

[2]Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Lệ X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Ngọc M, yêu cầu bà Nguyễn Thị T trả tiền hụi 35.000.000đ. Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ vào giấy xác nhận tiền góp hụi do phía nguyên đơn cung cấp, thì bị đơn bà Nguyễn Thị T còn nợ bà X 60.000.000đ, sau khi cấn trừ nợ cho bà Trần Thị T1 25.000.000đ, thì bà T còn nợ bà X 35.000.000đ, đến nay bà T chưa trả số nợ trên cho bà X, như bà X trình bày là đúng. Trong quá trình Tòa thụ lý, giải quyết vụ án này, bà T cũng vắng mặt và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án, hoặc văn bản trình bày ý kiến nào phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Mặc khác bà Trần Thị T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác nhận sau khi bà T tuyên bố vỡ hụi thì còn nợ bà Võ Thị Lệ X 60.000.000đ, nên yêu cầu bà khẩu trừ số nợ 25.000.000₫ trả cho bà X, nên hiện nay bà T còn nợ bà X số tiền hụi 35.000.000₫ là đúng sự thật.

Nội dung các bên thoả thuận tham gia chơi hụi và giấy xác nhận nợ này là hoàn toàn tự nguyện không trái quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nên có căn cứ để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị Lệ X, ông Đỗ Ngọc M số tiền góp hụi 35.000.000₫ là phù hợp với Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015 và các Điều 18, 23, 25 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP, ngày 19/02/2019 của Nghị định chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.

[3] Vợ chồng bà X, ông M không yêu cầu bà T phải có nghĩa vụ trả lãi, đối với số tiền nợ trên, nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Về án phí Dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bà Nguyễn Thị T phải chịu 5%x 35.000.000₫ = 1.750.000đ án phí sung ngân sách nhà nước. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho bà X.

[5]Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

-Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 18, 23, 25 Nghị định 19/2019/NĐ-CP, ngày 19/02/2019 của Nghị định chính phủ về họ, hụi, biêu phường; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Lệ X đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T.
    1. Buộc bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ trả cho vợ chồng bà Võ Thị Lệ X, ông Đỗ Ngọc M số tiền 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng).
  2. Về án phí Dân sự sơ thẩm:
    1. Buộc bà Nguyễn Thị T phải chịu 1.750.000đ (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí sung ngân sách nhà nước.
    2. Hoàn trả lại cho bà Võ Thị Lệ X 875.000₫ (T3 trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí mà bà X đã nộp theo biên lai thu tiền số 0009283, ngày 06-10-2023 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
  3. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
    1. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357 khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
    2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định điều 30 luật thi hành án dân sự.
  4. Về quyền kháng cáo: Bà Võ Thị Lệ X, bà Nguyễn Thị T, bà Trần Thị T1 và ông Đỗ Ngọc M vắng mặt nên được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án, hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

-Các đương sự;

-TAND tỉnh Bình Định;

-VKSND huyện Phù Mỹ;

-CC THADS huyện Phù Mỹ;

-Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/DS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp về hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 72/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Lệ X và Nguyễn Thị T về Tranh chấp về hợp đồng góp hụi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger