Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 72/2024/DS-ST

Ngày: 16 - 8 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Liêm

Bà Ngô Thị Mỹ Lợi

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.

Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 và ngày tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 134/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 90/QÐST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP H (M).

    Trụ sở chính: Số E N, phường L, quận Đ, Thành phố H.

    Đại diện pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng L - Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP H

    Đại diện ủy quyền: Anh Nguyễn Nhạc V, chị Ngô Thị Thảo L1 - Chuyên viên xử lý nợ. (Văn bản ủy quyền ngày 30/5/2024)

    Địa chỉ liên lạc: Tầng A, Tòa nhà TNR, số 180 - 192 Nguyễn Công Trứ, phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

  2. Bị đơn:

    • Anh Lý Phúc D, sinh năm 1984;

    • Chị Trương Thị Diễm T, sinh năm 1987

    Cùng địa chỉ: Số B, Rạch C, Khóm B, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Ngọc T1, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số B, phường M, thành phố C, tỉnh Đ

    Nơi ở hiện nay: N, Khóm B, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ

Tại phiên tòa: Có mặt chị L1; Vắng mặt anh D, chị T, chị T1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa chị Ngô Thị Thảo L1 – đại diện ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP H trình bày:

Ngân hàng Thương mại cổ phần H (viết tắt Ngân hàng H) có cho anh Lý Phúc D vay vốn cụ thể như sau:

  • Hợp đồng cho vay kiêm Giấy nhận nợ số 01611/2022/HĐCV/RB ngày 23/08/2022, số tiền vay 9.200.000.000 đồng (Chín tỷ hai trăm triệu đồng), thời hạn vay 300 tháng, mục đích vay mua thửa đất 01, 191 cùng tờ bản đồ số 27 (tọa lạc tại Khóm B, Phường A, thành phố S). Lãi suất vay 9,6%/năm kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên cho đến ngày 23/08/2023, lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay thông thường trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Phương thức trả nợ: Nợ gốc trả đều hàng tháng, lãi trả hàng tháng tính trên dư nợ thực tế giảm dần.

    Từ ngày 16/9/2023 anh D đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, đến ngày 12/10/2023 Ngân hàng đã chuyển khoản nợ trên sang nợ quá hạn. Tạm tính đến ngày 18/7/2024 số tiền vốn, lãi phải thanh toán là 10.309.684.629 đồng, trong đó vốn gốc là 8.831.999.600 đồng, lãi trong hạn 226.021.305 đồng, lãi quá hạn 1.251.663.724 đồng.

  • Hợp đồng Tín dụng hạn mức số 00485/HĐTD/2023/HĐTCHM /RB/2198023 ngày 09/01/2023, số tiền vay 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay phục vụ đời sống, nhu cầu chi tiêu cá nhân, lãi suất vay 24%/năm kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên cho đến ngày 28/02/2023, lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay thông thường trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn

    Từ ngày 16/9/2023 anh D đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, đến ngày 12/10/2023 Ngân hàng đã chuyển khoản nợ trên sang nợ quá hạn. Tạm tính đến ngày 18/7/2024 số tiền vốn, lãi phải thanh toán là 428.038.206 đồng, trong đó vốn gốc là 300.000.000 đồng, lãi trong hạn 68.860.124 đồng, lãi quá hạn 59.178.082 đồng.

  • Hợp đồng cho vay kiêm Giấy nhận nợ số 111-00006600.04588/2023 /HĐCV ngày 31/05/2023, số tiền vay 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng), thời hạn vay 120 tháng, mục đích vay tiêu dùng mua sắm trang thiết bị gia đình, lãi suất vay 15,1%/năm kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên cho đến ngày 30/08/2023, lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay thông thường trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, phương thức trả nợ: Nợ gốc trả đều hàng tháng, lãi trả hàng tháng tính trên dư nợ thực tế giảm dần.

    Từ ngày 16/9/2023 anh D đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, đến ngày 12/10/2023 Ngân hàng đã chuyển khoản nợ trên sang nợ quá hạn. Tạm tính đến ngày 18/7/2024 số tiền vốn, lãi phải thanh toán là 707.039.480đ đồng, trong đó vốn

gốc là 590.000.000 đồng, lãi trong hạn 14.158.836 đồng, lãi quá hạn 102.880.644 đồng.

Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán cho 03 khoản vay trên, Ngân hàng H và anh Lý Phúc D, chị Trương Thị Diễm T có ký kết Hợp đồng thế chấp số 030/2022/BĐ ngày 31/8/2022. Tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa 01 tờ bản đồ 27 diện tích 258,7m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh D ngày 30/8/2022; Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa 191 tờ bản đồ 27 diện tích 82,3m² được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai cấp cho anh Lý Phúc D đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (chỉnh lý trang 4), đất tọa lạc tại Phường A, thành phố S. Việc thế chấp và đăng ký thế chấp thực theo đúng quy định của pháp luật.

Ngoài ra, giữa Ngân hàng và anh Lý Phúc D có ký đề nghị vay vốn và phát hành thẻ (hình thức vay không có tài sản đảm bảo), cụ thể:

  • Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay số 002/2022/HĐCV ngày 18/02/2022, số tiền vay 195.000.000 đồng (một trăm chín mươi lăm triệu đồng), thời hạn vay 36 tháng, mục đích vay: Mua sắm trang thiết bị, nội thất gia đình, lãi suất vay 16%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay thông thường trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, phương thức trả nợ: Nợ gốc trả đều hàng tháng, lãi trả hàng tháng tính trên dư nợ thực tế giảm dần.

    Từ ngày 16/9/2023 anh D đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 12/10/2023 Ngân hàng đã chuyển khoản nợ trên sang nợ quá hạn. Tạm tính đến ngày 18/7/2024 số tiền vốn, lãi phải thanh toán là 119.277.071 đồng, trong đó vốn gốc là 97.499.994 đồng, lãi trong hạn 2.636.359 đồng, lãi quá hạn 19.140.718 đồng.

  • Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 29/04/2020, số tiền hạn mức cấp thẻ tín dụng là 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng). Loại thẻ Visa Signature Dining, lãi suất 36%/năm, lãi suất quá hạn 145%/năm, hạn mức duy trì sử dụng 36 tháng.

    Từ ngày 25/5/2023 anh D đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Tạm tính đến ngày 18/7/2024 số tiền vốn, lãi phải thanh toán là 225.670.125 đồng, trong đó vốn gốc là 140.985.889 đồng, lãi 84.684.236 đồng.

Các khoản vay theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng ngày 18/02/2022; Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ ngày 23/8/2022; Hợp đồng tín dụng hạn mức ngày 09/01/2023; Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ ngày 31/5/2023. Chị T (vợ anh D) và anh D có ký văn bản đồng thuận vay vốn, cùng trả nợ cho Ngân hàng.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, anh D và chị T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi, không thực theo đúng cam kết, thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay, Giấy nhận nợ, đơn đăng ký phát hành thẻ tín dụng đã ký kết. Ngày 28/9/2023, Ngân hàng có thông báo gởi cho anh D, chị T về việc chuyển nợ quá hạn và thu hồi vốn trước hạn.

Tạm tính đến ngày 18/7/2024, tổng số tiền vốn lãi mà anh D và chị T phải thanh toán cho Ngân hàng là 11.789.709.511 đồng, trong đó vốn gốc là

9.960.485.483 đồng, lãi trong hạn 396.360.860 đồng, lãi quá hạn/phạt 1.432.863.168 đồng.

Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần H yêu cầu:

  1. Buộc anh D và chị T cùng liên đới trả cho Ngân hàng số tiền vốn gốc, tiền lãi tạm tính đến ngày 18/7/2024 là 11.564.039.386 đồng, trong đó vốn gốc 9.819.499.594 đồng; Tiền lãi 1.744.539.792 đồng (lãi trong hạn 311.676.624 đồng, lãi quá hạn/phạt 1.432.863.168 đồng).

    - Kể từ ngày 19/7/2024, anh D và chị T còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại các Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay số: 002/2022/HĐCV ký ngày 18/02/2022; Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: 01611/2022/HĐCV /RB ký ngày 23/08/2022; Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 00485/HĐTD /2023/HĐTCHM/RB/2198023 ký ngày 09/01/2023; Hợp đồng cho vay kiêm Giấy nhận nợ số: 111-00006600.04588/2023/HĐCV ký ngày 31/05/2023

  2. Buộc anh D trả cho Ngân hàng số tiền vốn gốc + lãi tạm tính đến ngày 18/7/2024 số tiền vốn, lãi phải thanh toán là 225.670.125 đồng, trong đó vốn gốc là 140.985.889 đồng, lãi 84.684.236 đồng.

    - Kể từ ngày 19/7/2024, anh D còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 29/04/2020.

  3. Trường hợp, anh D và chị T không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, thì Ngân hàng H được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp số 030/2022/BĐ ngày 31/8/2022.

    - Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì anh D và chị T vẫn có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ còn lại cho Ngân hàng H.

* Bị đơn anh Lý Phúc D và chị Trương Thị Diễm T: Vắng mặt từ khi thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa xét xử, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Bùi Ngọc T1 trình bày:

Chị T1 có thuê của anh D căn nhà tại đường N, Khóm B, Phường A, thành phố S gắn liền với thửa đất 01, 197 tờ bản đồ 27 (hiện đang thế chấp cho Ngân hàng). Trường hợp phải xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ theo yêu cầu của Ngân hàng thì chị T1 sẽ tự nguyện giao trả tài sản (nhà) thuê lại cho anh D. Đối với hợp đồng thuê nhà giữa chị T1 với anh D; chị T1 không tranh chấp yêu cầu giải quyết, để các bên tự thỏa thuận.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc phát biểu ý kiến:

  • Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn không thực hiện quyền, nghĩa

vụ của mình theo quy định của pháp luật.

  • Về nội dung: Đề nghị, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

    • + Buộc anh D và chị T trả cho Ngân hàng số tiền vốn gốc + lãi tạm tính đến ngày 18/7/2024 là 11.564.039.386 đồng. Tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày từ ngày 19/7/2024 trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại các Đề nghị, Hợp đồng tín dụng đã ký kết.

    • + Buộc anh D trả cho Ngân hàng số tiền vốn gốc + lãi tạm tính đến ngày 18/7/2024 là số tiền vốn, lãi phải thanh toán là 225.670.125 đồng. Tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 19/7/2024 trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.

    • + Ngân hàng Thương mại cổ phần H được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp số 030/2022/BĐ ngày 31/8/2022 trong trường hợp anh D, chị T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.

  • Về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng khác đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật (có bài phát biểu kèm theo).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Trên cơ sở Đơn khởi kiện của Nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng. Bị đơn anh Lý Phúc D, chị Trương Thị Diễm T hiện cư trú tại thành phố S nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Tại phiên toà bị đơn anh Lý Phúc D, chị Trương Thị Diễm T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt không có lý do; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Bùi Ngọc T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần H về việc yêu cầu anh Lý Phúc D, chị Trương Thị Diễm T trả tổng số tiền vốn gốc, lãi tính đến ngày 18/7/2024 là 11.564.039.386 đồng. Trong đó vốn gốc 9.819.499.594 đồng; Tiền lãi 1.744.539.792 đồng (lãi trong hạn 311.676.624 đồng, lãi quá hạn/phạt 1.432.863.168 đồng); Tiếp tục trả lãi trên dư nợ gốc kể từ ngày 19/7/2024 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ theo mức lãi suất quy định tại các hợp đồng tín dụng, thỏa thuận đã ký kết, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Về xác lập Hợp đồng và nợ gốc.

Giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần H và anh Lý Phúc D có ký kết các hợp đồng vay vốn theo giấy Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay số: 002/2022/HĐCV ký ngày 18/02/2022; Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: 01611/2022/HĐCV/RB ký ngày 23/08/2022; Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 00485/HĐTD /2023/HĐTCHM/RB/2198023 ký ngày 09/01/2023; Hợp đồng cho vay kiêm Giấy nhận nợ số: 111-00006600.04588/2023/HĐCV ký ngày 31/05/2023. Căn cứ các hợp đồng tín dụng Ngân hàng đã giải ngân cho anh Dân số tiền vốn tổng cộng là 10.295.000.000 đồng.

Tại thời điểm ký kết hợp đồng các bên tham gia ký kết hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự. Hợp đồng tín dụng giữa các bên được lập thành văn bản, mục đích và nội dung các thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 117, Điều 118 và Điều 119 của Bộ luật Dân sự. Trong quá trình thực hiện hợp đồng Ngân hàng H đã giải ngân đủ số tiền vay theo các hợp đồng tín dụng đã ký; Anh D và chị T đã nhận đủ số tiền vay. Như vậy, Ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.

Ngoài ra, giữa anh D và chị T (vợ anh D) cũng có ký các văn bản đồng thuận về việc trả vốn và cùng trả nợ cho ngân hàng ngày 18/02/2022, 23/8/2022, 09/01/2023, 31/5/2023, thống nhất cử anh D thực hiện các thủ tục vay vốn tại ngân hàng H; Các văn bản đồng thuận này là một bộ phận không thể tách rời của Hợp đồng cho vay/Hợp đồng tín dụng mà anh D đã ký kết với ngân hàng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, anh D và chị T có trả được số tiền vốn là 475.500.406 đồng. Tuy nhiên, từ ngày 16/9/2023 anh D và chị T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 23/8/2023 Ngân hàng thông báo cho anh D và chị T biết về việc chuyển nợ quá hạn và thu hồi vốn trước hạn nhưng anh D, chị T cũng không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Do đó, từ ngày 12/10/2023 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn nợ sang nợ quá hạn theo quy định pháp luật.

Về phía anh D, chị T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, giấy triệu tập nhưng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nên phải chịu hậu quả pháp lý về sự vắng mặt của mình.

Như vậy, căn cứ vào các Giấy đề nghị vay vốn, hợp đồng cho vay, hợp đồng tín dụng hạn mức; Các văn bản đồng thuận về việc trả nợ đã ký kết, có đủ căn cứ xác định giữa Ngân hàng, anh D và chị T có xác lập hợp đồng vay tài sản. Theo đó, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, nên việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh D, chị T cùng chịu trách nhiệm trả số tiền nợ gốc 9.819.499.594 đồng là có căn cứ chấp nhận.

[2.3]. Về nợ lãi: Đối với khoản vay trên trong Hợp đồng vay/Hợp đồng tín dụng đã ký kết các bên có thỏa thuận lãi suất cụ thể: Hợp đồng cho vay kiêm Giấy nhận nợ ngày 23/08/2022 lãi suất vay 9,6%/năm; Hợp đồng Tín dụng hạn mức số ngày 09/01/2023 lãi suất vay 24%/năm; Hợp đồng cho vay kiêm Giấy nhận nợ ngày 31/05/2023 lãi suất vay 15,1%/năm; Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay ngày 18/02/2022 lãi suất vay 16%/năm.

Sự thỏa thuận giữa các bên về lãi suất là hoàn toàn tự nguyện và không trái quy định của pháp luật tại Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng. Quá trình thực hiện hợp đồng anh D và chị T có trả lãi số tiền là 852.911.228 đồng. Nhưng từ ngày 16/9/2023, anh D và chị T vi phạm nghĩa vụ thanh toán lãi theo thỏa thuận. Do đó, việc Ngân hàng yêu cầu anh D và chị T trả tổng số tiền lãi là 1.744.539.792 đồng (tính đến ngày 18/7/2024), trong đó lãi trong hạn 311.676.624 đồng, lãi quá hạn/phạt 1.432.863.168 đồng. Tiếp tục trả lãi trên dư nợ gốc kể từ ngày 19/7/2024 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị vay vốn, hợp đồng cho vay, hợp đồng tín dụng hạn mức là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Như vậy, tổng số tiền vốn, lãi mà anh D và chị T liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H đến ngày 18/7/2024 là 11.564.039.386 đồng, trong đó vốn gốc 9.819.499.594 đồng; Tiền lãi 1.744.539.792 đồng.

[3]. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần H về việc yêu cầu anh Lý Phúc Dân s tiền vốn gốc, lãi tính đến ngày 18/7/2024 là 225.670.125 đồng. Trong đó vốn gốc là 140.985.889 đồng, lãi 84.684.236 đồng; Tiếp tục trả lãi phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày 19/7/2024 cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 29/04/2020, Hội đồng xét xử xét thấy:

[3.1] Ngày 29/04/2020 giữa ngân hàng và anh D có ký kết Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, Ngân hàng đồng ý cấp Thẻ tín dụng hạn mức cho anh Dân số tiền là 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), loại thẻ Visa Signature Dining, hạn mức duy trì sử dụng 36 tháng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, anh D có thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi. Tuy nhiên từ ngày 25/5/2023 anh D đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn theo Hợp đồng đã ký kết.

Đối với bị đơn anh D quá trình thụ lý, giải quyết Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, giấy triệu tập nhưng không đến Toà án; Không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng không có ý kiến phản bác về tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp cho Toà án nên phải chịu hậu quả pháp lý về sự vắng mặt của mình.

Về phía Ngân hàng xác định khoản vay theo thẻ tín dụng (loại thẻ Visa Signature Dining) là cấp cho cá nhân, chị T không ký văn bản đồng thuận trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu cá nhân anh D chịu trách nhiệm trả nợ, không yêu cầu chị T liên đới. Như vậy, căn cứ vào Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 29/4/2020 xác định giữa Ngân hàng và anh D có xác lập hợp đồng vay tài sản. Theo đó, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, nên việc Ngân hàng yêu cầu anh D trả số tiền nợ gốc 140.985.889 đồng là có căn cứ chấp nhận.

[3.2] Về lãi suất vay: Theo Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 29/4/2020, lãi suất hai bên thỏa thuận là 36%/năm. Sự thỏa thuận của các bên về lãi suất là tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng. Nên việc Ngân hàng yêu cầu anh D trả lãi tính đến ngày 18/7/2024 là 84.684.236 đồng; Tiếp tục trả lãi trên dư nợ gốc kể từ ngày 19/7/2024 cho đến khi

thanh toán xong nợ theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng là có căn cứ chấp nhận.

[4] Về Hợp đồng thế chấp: Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán cho khoản vay anh D và chị T có thế chấp các tài sản gồm: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa 01 tờ bản đồ 27 diện tích 258,7m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh D ngày 30/8/2022; Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa 191 tờ bản đồ 27 diện tích 82,3m² được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai cấp cho anh Lý Phúc D đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (chỉnh lý trang 4).

Hợp đồng thế chấp mà các bên tham gia ký kết được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 317, 318, 319 Bộ luật dân sự 2015, có công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý, phát sinh hiệu lực đối với các bên. Do đó, trường hợp anh D và chị T không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 030/2022/BĐ ngày 31/8/2022 để thu hồi nợ là phù hợp, có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về phía người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Bùi Ngọc T1 trình bày trong trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp do anh D và chị T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, thì chị T1 đồng ý giao trả tài sản (nhà – đất) cho anh D; Chị T1 cũng không có tranh chấp gì đối với hợp đồng thuê giữa chị T1 và anh D để các bên tự thỏa thuận, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ như đã nhận định trên.

[7]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh D và chị T chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận.

[8]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Số tiền 200.000 đồng, Ngân hàng tự nguyện nộp (đã nộp đủ và chi xong)

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

  • Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

  • Căn cứ vào Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 323, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luận Dân sự

  • Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng.

  • Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn lãi, lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng vay tài sản;

  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần H.

    1. Buộc anh Lý Phúc D, chị Trương Thị Diễm T liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H số tiền vốn gốc là 9.819.499.594 đồng, lãi là 1.744.539.792 đồng. Tổng cộng số nợ phải trả tính đến ngày 18/7/2024 là 11.564.039.386 đồng (Mười một tỷ, năm trăm sáu mươi bốn triệu, không trăm ba mươi chín ngàn, ba trăm tám mươi sáu đồng).

      - Anh Lý Phúc D, chị Trương Thị Diễm T tiếp tục trả tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán từ ngày 19/7/2024 theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại các Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay số: 002/2022/HĐCV ký ngày 18/02/2022; Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: 01611/2022/HĐCV /RB ký ngày 23/08/2022; Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 00485 /HĐTD/2023/HĐTCHM/RB/2198023 ký ngày 09/01/2023; Hợp đồng cho vay kiêm Giấy nhận nợ số: 111-00006600.04588/2023/HĐCV ký ngày 31/05/2023.

    2. Buộc anh Lý Phúc D trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H là số tiền vốn gốc là 140.985.889 đồng, lãi 84.684.236 đồng. Tổng số tiền vốn gốc, lãi phải trả tính đến ngày 18/7/2024 là 225.670.125 đồng (Hai trăm hai mươi lăm triệu, sáu trăm bảy mươi ngàn, một trăm hai mươi lăm đồng).

      - Anh Lý Phúc D tiếp tục trả tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán từ ngày 19/7/2024 theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 29/04/2020.

    3. Khi bản án, quyết định có hiệu lực mà anh Lý Phúc D, chị Trương Thị Diễm T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần H được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp số 030/2022/BĐ ngày 31/8/2022.

      - Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ trả nợ thì anh Lý Phúc D, chị Trương Thị Diễm T vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả số nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Anh Lý Phúc D, chị Trương Thị Diễm T liên đới chịu 119.564.000 đồng (Một trăm mười chín triệu, năm trăm sáu mươi bốn ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Anh Lý Phúc D chịu 11.284.000 đồng (Mười một triệu, hai trăm tám mươi bốn ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  • Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 59.129.000 đồng theo biên lai số 0004145 ngày 24/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.

  1. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Số tiền 200.000đ, Ngân hàng Thương mại cổ phần H tự nguyện nộp (đã nộp đủ và chi xong).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;

  • - Tòa án Tỉnh Đồng Tháp;

  • - Viện Kiểm sát ND TP. Sa Đéc;

  • - Chi cục THA Dân sự TP. Sa Đéc;

  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/DS-ST ngày 16/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 72/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu nguyên đơn buộc bên a trả số tiền vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger