Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 72/2023/HS-PT

Ngày: 18/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng và ông Trần Minh Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 18 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 63/2023/TLPT-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Lê Ngọc H do có kháng cáo của bị cáo Lê Ngọc H, bị hại L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2023/HS-ST ngày 15/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hoà, tỉnh Phú Yên.

- Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo: Lê Ngọc H, sinh năm 1954; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn C, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê C, sinh năm 1925 (chết) và bà Trình Thị T, sinh năm 1928 (chết); có vợ Huỳnh Thị H1, sinh năm 1955 và 05 con, con lớn nhất sinh năm 1976, con nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: Không; là Đảng viên Đ, bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo quyết định số: 93-QĐ/UBKTTU ngày 09/6/2023 của Ủy ban kiểm tra thị ủy Đ1; bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Người bào chữa của bị cáo Lê Ngọc H: Ông Nguyễn Thanh M – Luật sư, ký hợp đồng trợ giúp pháp lý và được Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P cử; có mặt.

- Bị hại: Ông Lê T1, sinh năm 1955. Nơi cư trú: Thôn C, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; có mặt.

- Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Ông Nguyễn Phi C1, sinh năm 1954. Nơi cư trú: C T, Phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Văn bản ủy quyền ngày 12/9/2023; có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Ngô Văn T2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P cử; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 27/12/2022, Lê Ngọc H đến ruộng của mình ở thôn C, xã H, thị xã Đ để sạ ruộng thì thấy nước từ mương chảy vào ruộng nên H dùng cây cuốc dài 144cm, cán bằng gỗ tre, lưỡi bằng kim loại có kích thước (26 x 19,5)cm lấp đất ngoài mương không cho nước vào ruộng. Lúc này, Lê T1 mang theo 01 cây cuốc dài khoảng 120cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại kích thước khoảng (20 x 25)cm đến và thấy H đang lấp đất dưới mương nên đến ngăn cản không cho lấp vì T1 đang xả nước ra mương, thì xảy ra cãi nhau. T1 lao vào giằng co cây cuốc, H giật lại được, H cầm cây cuốc giơ lên cao, lưỡi hướng về phía T1, thì T1 cũng cầm cây cuốc của T1 xông vào đứng đối diện cách H khoảng 1,5m giơ lên và đánh H trước, H dùng cuốc đánh ngang 01 cái hướng từ phải sang trái làm lưỡi cuốc trúng vào vùng đỉnh trán bên trái của T1. H và T1 tiếp tục dùng cuốc đánh nhau qua lại nhưng không ai bị thương tích, thấy vậy Đoàn Văn C2 đang làm ruộng gần đó đến can ngăn. T1 bị thương tích được đưa đến bệnh viện đa khoa tỉnh P điều trị.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 53 ngày 24/02/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Lê Thuận bị thương tích tỉ lệ 05%, do vật có cạnh gây nên. Ngày 14/3/2023, Lê T1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2023/HS-ST ngày 15/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hoà, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Lê Ngọc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 134; Điểm b, i, s, x Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự; phạt: Lê Ngọc H 06 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã Đ, tỉnh Phú Yên nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584; 585; 590 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Lê Ngọc H phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Lê Thuận số tiền 12.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/8/2023, bị cáo Lê Ngọc H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, áp dụng hình phạt nhẹ hơn hoặc miễn trách nhiệm hình sự.

Ngày 28/8/2023, bị hại Lê T1 kháng cáo đề nghị xử bị cáo hình phạt tù và tăng bồi thường dân sự.

Tại phiên tòa

, bị cáo Lê Ngọc H và bị hại Lê T1 vẫn khai về tình tiết vụ án diễn ra như nội dung Bản án sơ thẩm đã tuyên và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Người bào chữa của bị cáo Lê Ngọc H cho rằng tính chất phạm tội của bị cáo có mức độ và có phần do lỗi của bị hại, mặt khác bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên đề nghị Hội đồng xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại cho rằng, Bản án sơ thẩm đã xét xử có lý, có tình, nên đề nghị Hội đồng xét xem xét.

- Người đại diện theo ủy quyền của bị hại và bị hại đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị hại.

Quá trình đối đáp, Kiểm sát viên không nhất trí với ý kiến của người bào chữa, đại diện theo ủy quyền của bị hại và bị hại, giữ nguyên quan điểm; bị cáo nói lời sau cùng xin được khoan hồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại; người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu là chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 27/12/2022, tại thôn C, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên, trong lúc đắp và xả nước sạ ruộng thì xảy ra cãi vã giữa bị hại Lê T1 với bị cáo Lê Ngọc H, nên xảy ra xô xát, hai bên đều cầm cuốc đánh qua lại; bị cáo H dùng cuốc đánh ngang từ phải sang trái, lưỡi cuốc trúng vào vùng đỉnh trán trái của bị hại Lê T1 gây thương tích, tỷ lệ 05%. Tuy thương tích của bị hại dưới 11%, nhưng bị cáo sử dụng cây cuốc, có phần lưỡi bằng sắt để gây án, là thuộc trường hợp phạm tội “dùng hung khí nguy hiểm”; do đó cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm a, Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

  2. Xét kháng cáo của bị cáo, kháng cáo của bị hại. Hội đồng xét xử, thấy:

    [2.1] Về Hình phạt: Hành vi của bị cáo nguy hiểm, đã xâm phạm đến sức khỏe của bị hại trái pháp luật, gây mất trật tự trị an – an toàn xã hội ở địa phương, nên cần xử phạt thỏa đáng. Khi lượng hình, án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, xem xét mức độ lỗi của mỗi bên, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để phạt bị cáo 06 tháng cải tại không giam giữ là phù hợp. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo cũng như kháng cáo của bị hại, mà chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

    [2.2] Về trách nhiệm dân sự: Trên cơ sở yêu cầu của bị hại, xem xét các chứng từ hợp lệ, chi phí hợp lý; bản án sơ thẩm đã buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại các khoản, gồm: Chi phí điều trị tại bệnh viện có hóa đơn 4.861.494 đồng; Khoản tiền tổn thất về tinh thần 03 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định 1.800.000 đồng x 3 = 5.400.000 đồng; Chi phí bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe chấp nhận số tiền 1.738.506 đồng. Tổng cộng 12.000.000 đồng; là tình đúng, tính đủ các khoản chi phí thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Do đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng của bị hại yêu cầu tăng bồi thường dân sự là có cơ sở chấp nhận.

  3. Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, không chấp nhận kháng cáo của bị hại – Giữ nguyên bản án sơ thẩm;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  1. Về hình phạt:
  2. Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 134; Điểm b, i, s, x Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự;

    Phạt: Bị cáo Lê Ngọc H – 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã Đ, tỉnh Phú Yên nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo.

    Giao bị cáo Lê Ngọc H cho Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục đối với bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

  3. Về trách nhiệm dân sự:
  4. Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584; 585; 590 Bộ luật Dân sự;

    Buộc bị cáo Lê Ngọc H phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Lê T1 số tiền 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng). Bị cáo Lê Ngọc H đã bồi thường đủ.

    T3 trả cho bị hại Lê T1 số tiền 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng) mà bị cáo Lê Ngọc H đã nộp bồi thường tại các biên lai thu tiền số 0000879 ngày 19/4/2023 và biên lai thu tiền số 0000906 ngày 10/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.

  5. Về án phí:
  6. Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

    Bị cáo Lê Ngọc H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao Đà Nẵng (1);
  • - VKSND cấp cao Đà Nẵng (1);
  • - TAND thị xã Đông Hoà (2);
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - VKSND thị xã Đông Hoà (1);
  • - Công an thị xã Đông Hoà (1);
  • - PV06;
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - P.KTNV (1);
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu án văn (1); lưu hồ sơ (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Nguyên Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2023/HS-PT ngày 18/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 72/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Ngọc H - Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger