Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LÁT

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 72/2023/HS-ST
Ngày 16-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Văn Cường
2. Bà Phan Thị Mấy

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Nam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2023/TLST-HS ngày 04/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/QĐXXST-HS ngày 02/11/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn T; sinh năm 1988. Tại: Xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Bản P, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...], cấp ngày 12/7/2021; Con ông Hoàng Văn B, sinh năm 1964 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1968 (đã chết); Bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Lò Thị K, sinh năm 1989 (Chưa đăng ký kết hôn) và có 01 con là Hoàng Thanh S, sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 13/7/2023 cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Ngọc K1 – Trợ giúp viên pháp lý, Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 1 – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. Có mặt.

- Bị hại:

  1. Chị Lò Thị K, sinh năm 1989. Địa chỉ: Bản P, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  2. Ông Lò Văn À, sinh năm 1969. Địa chỉ: Bản P, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lò Thị K, sinh năm 1989. Địa chỉ: Bản P, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Chị Lương Thị Y, sinh năm 1982. Địa chỉ: Bản P, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  2. Anh Lò Văn D, sinh năm 1984. Địa chỉ: Bản P, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  3. Anh Lương Văn Y1, sinh năm 1973. Địa chỉ: Bản P, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

Đây là vụ án rút kinh nghiệm năm 2023.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 17/01/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra (Viết tắt là CSĐT) Công an huyện M lập Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú tại Công an xã M, huyện M với nội dung: Khoảng giữa tháng 01 năm 2023, Hoàng Văn T, sinh năm 1988, trú tại bản Piềng Tặt, xã M, huyện M sau khi đi làm thuê ở bên nước Lào trở về nhà tại bản P, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi trở về T nảy sinh nghi ngờ về việc vợ mình là chị Lò Thị K, sinh năm 1989, trú tại bản Piềng Tặt, xã M, huyện M không chung thủy với mình. Khoảng 18 giờ ngày 16/01/2023, Hoàng Văn T tổ chức uống rượu bia tại sân trước nhà T cùng bạn bè, sau khi bạn bè về hết, đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, T và chị K vào nhà để nghỉ ngơi, khi vào nhà T hỏi chị K là trong thời gian T vắng nhà (đi làm ăn xa), chị K ở nhà không chung thủy với T phải không? Chị K không trả lời, T doạ nếu chị K không nói thì T sẽ đốt nhà, chị K không nói gì và bế con đi sang nhà bố mẹ đẻ để ngủ. Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 17/01/2023, do bực tức trong người, T đã lấy can xăng loại 10 lít để ở trong nhà của T và chị K, bên trong can còn khoảng 01 (một) lít xăng, rồi đổ xăng vung vãi khắp nhà, sau đó T dùng bật lửa gas đốt tờ bìa catton châm lửa đốt nhà. Sau đó, lửa cháy to, T bỏ chạy ra khỏi nhà, lửa cháy quá lớn, cháy nhà T và chị K, sau đó đã cháy lan sang nhà ông Lò Văn À, sinh năm 1969 (ở cùng bản với T). Kết quả cả nhà chị Lò Thị K và nhà ông Lò Văn À đều bị cháy hết cùng các tài sản trong nhà. Sau khi thấy lửa cháy to quá, không thể dập được, Hoàng Văn T đã đến Công an xã M để đầu thú.

* Khám nghiệm hiện trường: Sau khi tiếp nhận nguồn tin, Cơ quan CSĐT, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện M tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác minh, thu thập chứng cứ. Hiện trường vụ hủy hoại tài sản xảy ra tại nhà chị Lò Thị K và nhà của ông Lò Văn À, đều trú tại bản Piềng Tặt, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa, cụ thể như sau:

Nhà chị Lò Thị K được xây dựng bằng gạch vồ, mái nhà lợp bằng Fibro xi măng, phần khung và trần nhà làm bằng gỗ. Nhà gồm có 01 phòng ở là nơi để hàng hóa buôn bán, 01 cửa chính bằng sắt loại kéo ngang, 01 cửa sổ, 01 cửa phụ đi vào khu vực nhà bếp, nhà vệ sinh; mặt chính ngôi nhà hướng về phía Tây, tổng diện tích 71m² được đánh số (1); phía Đông là khu vực đồi núi; phía Tây tiếp giáp đường tỉnh lộ 521E thuộc bản P, xã M, huyện M; phía Nam giáp liền kề nhà ông Lò Văn À, sinh năm 1969; phía Bắc giáp nhà ông Lò Văn X, sinh năm 1993.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

  • Tại cửa sắt phía trước, bên ngoài bị nhiệt tác động làm biến dạng một phần, thay đổi màu sơn; bên trong giáp tường nhà theo hướng bắc có 02 tủ lạnh bị nhiệt tác động làm bong tróc sơn, thay đổi hình dạng và 01 kệ sắt loại ba ngăn bị nhiệt tác động làm cong vênh, biến dạng. Bên trong tủ lạnh và trên kệ sắt có nhiều hàng hóa bị cháy;
  • Bên trong nhà giáp tường theo hướng N có 02 kệ sắt loại ba ngăn để hàng hóa bị nhiệt tác động làm cong vênh, thay đổi hình dạng và 01 tủ sắt bị nhiệt tác động áp khói đen, cong vênh; tại nền nhà bên trong dưới chân kệ sắt để hàng hóa phát hiện thấy có chất dẻo, bùi nhùi có mùi xăng được đánh số thứ tự (2); tại nền nhà bên trong cạnh kệ sắt để hàng hóa theo hướng N phát hiện thấy có chất bùi nhùi và chất sợi kết dính dạng vải có mùi xăng, được đánh số thứ tự (3), tại vị trí (3) có chiều hướng cháy lan các vị trí khác, phần tường nhà ám khói đen, khu gỗ gắn tường nhà cháy hóa than.
  • Tại khu vực bếp ăn một phần tường nhà phía Bắc bị đổ vào bên trong làm tủ kính, bếp ga, tủ lạnh bị hư hỏng;
  • Kiểm tra hệ thống đường dây điện vào trong nhà từ cột điện số 1.20 “TΒΑΝΑ HÀO” vào trong nhà bị cháy đứt đường dây; hệ thống dây điện, ổ điện trong nhà bị cháy có chiều từ ngoài vào trong không phát hiện thấy chập chập.
  • Bên trong còn có các cột gỗ, khung gỗ bị cháy hóa than, các tấm lợp mái nhà vỡ vụn, một số hàng hóa thùng bia, chai nước ngọt... bị cháy dở và một số đồ dùng sinh hoạt trong gia đình như quần, áo, bát...

G liền kề nhà chị Lò Thị K về hướng N là nhà ông Lò Văn À bị cháy làm toàn bộ ngôi nhà bị sụp đổ hư hỏng; toàn bộ khung gỗ và mái nhà bị cháy hóa than, vỡ vụn. Các đồ dùng sinh hoạt trong gia đình bị nhiệt tác động làm cong vênh, móp, méo thay đổi hình dạng. Kiểm tra hệ thống đường điện bị cháy làm trơ lõi theo chiều hướng từ ngoài vào trong, từ trái sang phải không phát hiện thấy chạm, chập.

* Theo lời khai của bị hại Lò Thị K thì tài sản bị thiệt hại gồm:

  • 01 (Một) tủ lạnh Hòa Phát mua mới vào năm 2018 với giá 5.000.000₫ (Năm triệu đồng).
  • 01 (Một) tủ lạnh Hòa P mua mới vào năm 2020 với giá 5.300.000đ (Năm triệu ba trăm nghìn đồng).
  • 01 (Một) tivi LG màn hình 42inh mua mới vào năm 2022 với giá 10.050.000đ (Mười triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
  • 01 (Một) tủ sắt hai cánh mua mới vào năm 2017 với giá 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
  • 01 (Một) bếp ga nhãn hiệu Bexlin mua mới năm 2018 với giá 1.600.000₫ (Một triệu sáu trăm nghìn đồng).
  • 01 (Một) tủ nhôm kính đựng bát mua mới tháng 12 năm 2022 với giá 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
  • 03 (Ba) kệ sắt để hàng hóa có kích thước là 2,1m x 0,7m x 1,8m, tất cả mua mới năm 2022 với giá là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng)/01 kệ sắt.
  • 01 (Một) giường bằng gỗ dài 2,2m, rộng 2m mua mới vào năm 2016 với giá là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng).
  • Tổng số hàng hóa mua vào tháng 01 năm 2023 trong (Hai lần) với tổng số tiền là 55.000.000đ (Năm mươi năm triệu đồng).
  • 01 (Một) nhà cấp bốn, mái nhà lập bằng Fibro xi măng, nhà có 08 (Tám cột) bằng gỗ, tường nhà được xây bằng gạch vồ, trần nhà bằng gỗ, có tổng giá trị khoảng 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).
  • Số tiền mặt khoảng 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để trong túi xách treo trên móc áo cạnh tường bên phải giường ngủ.
  • 02 (Hai) bộ bàn ghế nhựa gồm 02 (Hai) bàn, 12 (Mười hai) ghế được mua mới vào năm 2022 với giá là 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng)/01bộ.
  • 30kg gạo cay nọi.

* Theo lời khai của bị hại Lò Văn À thì tài sản bị thiệt hại gồm:

  • 01 (Một) nhà bằng gỗ tạp, mái lập bằng tôn xốp, sàn bằng gỗ, nhà chưa có vách có tổng giá trị khoảng 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng), nhà mới làm xong tháng 01 năm 2023.
  • 14 (Mười bốn) bao bì sắc rắn chứa lúa cay nọi, mỗi bì nặng khoảng 40kg (Bốn mươi kilogam).
  • 05 (Năm) cái nồi bằng nhôm đường kính khoảng 60cm (Sáu mươi centimet) mua mới vào năm 2012 với giá là 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng)/01 cái.
  • 01 (Một) máy xay sinh tố mini mua mới tháng 01 năm 2022 với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).
  • 01 (Một) nồi cơm điện mua mới tháng 01 năm 2022 với giá 1.700.000₫ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng).
  • 02 (Hai) bình đun nước siêu tốc dung tích 1,5 lít mua mới vào năm 2019 với giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng)/ 01cái.
  • 01 (Một) quạt cây màu đen mua mới vào năm 2022 với giá 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng).
  • 02 (Hai) cái đệm màu đỏ sẫm của người dân tộc T1 mua mới năm 2019 với giá là 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng)/01 cái.
  • 01 (Một) cái đệm màu hồng mua mới với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) vào tháng 4 năm 2022.
  • 03 (Ba) cái màn được mua mới năm 2018 với tổng số tiền là 900.000₫ (Chín trăm nghìn đồng).
  • 08 (T2) cái chăn bông mua mới vào khoảng năm 2018 với giá 100.000₫ (Một trăm nghìn đồng)/01 cái.
  • Khoảng 12m (Mét) vải thổ cẩm dân tộc Thái đường kính 0,5m (Không phẩy năm mét) với giá trị khoảng 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
  • 03 (Ba) cái chiếu rộng 2m, dài 4m mua mới vào năm 2021 với giá là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng)/01 cái.
  • 02 (Hai) cái chiếu rộng 1m, dài 2m được mua mới vào năm 2021 với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng)/01 cái.
  • 10 (Mười) bao xi măng bỉm sơn.
  • 01 (Một) kính cận được cắt mới vào năm 2019 với giá 2.000.000₫ (Hai triệu đồng).

* Vật chứng của vụ án:

  • Các sản phẩm cháy thu giữ tại nhà chị Lò Thị K được bỏ vào trong 02 (Hai) túi nilon màu hồng.
  • Các sản phẩm cháy thu giữ tại nhà ông Lò Văn À được bỏ vào trong 01 (Một) túi nilon màu vàng.

Tất cả được niêm phong trong 01 (Một) hộp giấy màu trắng được dán kín niêm phong, xung quanh có các hình dấu đỏ của Công an xã M và các chữ ký của Lương Xuân M, Lương Văn Y1, Vi Văn N1, Nguyễn Ngọc T3, Lò Thị K, Lò Văn Â.

* Trưng cầu giám định, định giá tài sản:

  • Tại bản kết luận giám định số: 1532/KL-KTHS ngày 13/3/2023 của V Bộ C kết luận đối với:
    • Các sợi dây kim loại và các sản phẩm cháy dạng chất rắn màu đen trong 02 (Hai) túi nilon màu hồng thu tại nhà chị Lò Thị K.
    • Các sợi dây kim loại và các sản phẩm cháy dạng chất rắn màu đen trong 01 (Một) túi nilon màu vàng thu tại nhà ông Lò Văn À.
    Kết luận: Các sợi dây kim loại và sản phẩm cháy dạng chất rắn màu đen thu tại nhà chị Lò Thị K và thu tại nhà ông Lò Văn À gửi giám định đều không tìm thấy xăng. Các mẫu vật trên đã được sử dụng hết trong quá trình giám định.
  • Tại bản kết luận định giá tài sản số: 41/KL-ĐGTS ngày 15/5/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự, UBND tỉnh T kết luận: Tổng giá trị tài sản bị xâm hại đối với nhà ông Lò Văn À là: 139.620.356đ (Một trăm ba mươi chín triệu, sáu trăm hai mươi nghìn, ba trăm năm mươi sáu đồng); Tổng giá trị tài sản bị xâm hại đối với nhà chị Lò Thị K là: 45.877.193đ (Bốn mươi lăm triệu, tám trăm bảy mươi bảy nghìn, một trăm chín mươi ba đồng).

Về trách nhiệm dân sự:

- Đối với tổng giá trị tài sản bị thiệt hại của chị Lò Thị K, thì chị K không yêu cầu Hoàng Văn T phải bồi thường và đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Hoàng Văn T.

- Đối với tổng giá trị tài sản bị thiệt hại của ông Lò Văn À là 139.620.356₫ (Một trăm ba mươi chín triệu, sáu trăm hai mươi nghìn, ba trăm năm mươi sáu đồng). Hoàng Văn T cùng gia đình T đã thỏa thuận và đền bù thiệt hại số tiền 80.000.000₫ (Tám mươi triệu đồng) cho gia đình ông À, ông cam kết không kiện cáo, không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.

Quá trình điều tra, bị cáo Hoàng Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị can phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Riêng lời khai của T về việc dùng xăng đổ vung vãi lên nền nhà rồi dùng tờ bìa catton để châm lửa đốt nhà, thì theo Kết luận giám định không tìm thấy xăng trong các mẫu gửi giám định, nên không đủ căn cứ để xử lý Tầu về hành vi này.

Tại Bản cáo trạng số: 61/CT-VKS-ML ngày 03/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Huỷ hoại tài sản” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Chị Lò Thị K trình bày: Chị không yêu cầu bị cáo Hoàng Văn T phải bồi thường gì về dân sự. Đối với số tiền 80.000.000đ đã bồi thường cho ông Lò Văn À, thì chị không yêu cầu bị cáo Hoàng Văn T trả lại và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, ông Lò Văn À trình bày: Ông và Bà Lò Thị K (vợ của Hoàng Văn T) thỏa thuận là Hoàng Văn T phải bồi thường cho ông số tiền 80.000.000đ. Chị Lò Thị K đã bồi thường đủ số tiền 80.000.000đ (T2 mươi triệu đồng) cho ông. Nay ông không yêu cầu bị cáo Hoàng Văn T phải bồi thường gì thêm, đồng thười ông đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 178; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Về tội danh: Tuyên bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù, được trừ đi 02 ngày tạm giữ (từ ngày 17 và 18/01/2023). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam bị cáo (13/7/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, vì bị cáo làm nghề tự do, thu nhập ổn định, nên không khả thi.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và các bị hại trong quá trình điều tra. Bị cáo không phải bồi thường gì thêm.

Về vật chứng: Vật chứng đã sử dụng hết trong quá trình giám định, nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số (M1), sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí, nên miễn án phí HSST cho bị cáo.

Bị cáo nhận tội, không thay đổi, bổ sung thêm gì làm thay đổi nội dung vụ án, đồng ý với lời trình bày của người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa: Đồng ý với tội danh mà Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố đối với bị cáo; thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên về việc đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện do bị cáo thiếu kiềm chế, hậu quả xảy xa ngoài mong muốn của bị cáo; quá rình điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ cho bị hại; các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật hạn chế, do đó đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm, đề nghị miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, chấp nhận cho bị cáo không phải bồi thường cho các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vì những người này đã nhận đủ và không yêu cầu.

Những người tham gia tố tụng khác đồng ý đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát, không có tranh luận gì, không có ý kiến gì thêm.

Bị cáo thành khẩn nhận tội, bị cáo đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong giai đoạn tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cũng như Kết luận giám định của Phòng K2 Công an tỉnh T, bản Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự thuộc UBND tỉnh T. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, lời khai của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản, kết luận giám định và chứng cứ khác trong hồ sơ, HĐXX đủ cơ sở khẳng định:

Ngày 16/01/2023, Hoàng Văn T nghi ngờ chị Lò Thị K (là người chung sống với T như vợ chồng) ngoại tình, dẫn đến 02 người có mẫu thuẫn, Hoàng Văn T hỏi chị K nhưng chị K không trả lời và bỏ đi sang nhà bố mẹ chị K để ngủ. Đến khoảng 00 giờ 10 phút, ngày 17/01/2023 Hoàng Văn T đã lấy can bên trong còn khoảng 01 lít xăng, T đổ vung vãi ra nền nhà, dùng bìa catton châm lửa đốt, làm nhà của bị cáo và chị K, cháy các tài sản của gia đình T và chị K cùng bị cháy hết. Sau đó, do lửa cháy to, đã cháy lan làm cháy toàn bộ nhà và tài sản của gia đình ông Lò Văn À (ở bên cạnh nhà T). Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại do hành vi đốt nhà của Hoàng Văn T gây ra cho chị Lò Thị K và gia đình Lò Văn À là 162.558.952₫ (Một trăm sáu mươi hai triệu, năm trăm năm mươi tám nghìn, chín trăm năm mươi hai đồng). Hành vi của bị cáo Hoàng Văn T là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Như vậy, hành vi của Hoàng Văn T đã gây thiệt hại về tài sản của người khác với số tiền là 162.558.952₫ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Huỷ hoại tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 178 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo đã làm cho tài sản của bị hại bị mất hoàn toàn giá trị sử dụng, không thể khôi phục lại được, hành vi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo biết hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo hoàn toàn biết và nhận thức được về hậu quả mà hành vi mình gây ra. Hành vi của bị cáo đã gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, bị cáo đã tác động để vợ bị cáo bồi thường đầy đủ cho bị hại, các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật để bị cáo yên tâm cải tạo, lao động trở thành công dân tốt.

[5] Về hình phạt.

Hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo; bị cáo là công dân có đủ nhận thức và năng lực, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong gia đình, bị cáo đã có hành vi đốt nhà, hủy hoại tài sản của chính bị cáo và của người bị hại, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, Nên HĐXX cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản cá nhân, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về vật chứng trong vụ án: Đã sử dụng hết trong quá trình giám định, nên HĐXX không xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Chị Lò Thị K (là người sống như vợ chồng với Hoàng Văn T) không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị hại Lò Văn  và gia đình bị cáo Hoàng Văn T đã tự nguyện thỏa thuận mức bồi thường, và đã nhận đủ số tiền 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng). Tại phiên tòa, bị hại Lò Văn À không yêu cầu gì thêm về dân sự và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo Hoàng Văn T trả lại tiền đã bồi thường cho bị hại.

[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số (M1), sinh sống ở vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí, nên HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường xong trước khi mở phiên tòa, nên bị cáo không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Điểm b khoản 2 Điều 178; Điều 38; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về tội danh: Tuyên bố, bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Huỷ hoại tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù, được trừ đi 02 (Hai) ngày tạm giữ (ngày 17 và 18 tháng 01 năm 2023). Còn lại bị cáo phải chấp hành là 04 (Bốn) năm 05 (Năm) tháng 28 (Hai mươi tám) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam (13/7/2023).

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng, tài sản: Không.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo không phải bồi thường gì thêm.

Về án phí: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; Bị cáo không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai, có mặt bị cáo, người bào chữa, các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Bị cáo, các bị hại và người có có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận :

  • - Phòng KTNV, TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKS nhân dân huyện Mường Lát;
  • - Phòng 7 - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an H. Mường Lát;
  • - Cơ quan THAHS – Công an H. Mường Lát;
  • - Bộ phận hồ sơ - Công an H. Mường Lát;
  • - Chi cục THADS huyện Mường Lát;
  • - UBND xã Mường Chanh, huyện Mường Lát;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người bảo chữa cho bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Hồ sơ Thi hành án Hình sự;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ về hình sự (huỷ hoại tài sản)

  • Số bản án: 72/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Huỷ hoại tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 17/01/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra (Viết tắt là CSĐT) Công an huyện M lập Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú tại Công an xã M, huyện M với nội dung: Khoảng giữa tháng 01 năm 2023, Hoàng Văn T, sinh năm 1988, trú tại bản Piềng Tặt, xã M, huyện M sau khi đi làm thuê ở bên nước Lào trở về nhà tại bản P, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi trở về T nảy sinh nghi ngờ về việc vợ mình là chị Lò Thị K, sinh năm 1989, trú tại bản Piềng Tặt, xã M, huyện M không chung thủy với mình. Khoảng 18 giờ ngày 16/01/2023, Hoàng Văn T tổ chức uống rượu bia tại sân trước nhà T cùng bạn bè, sau khi bạn bè về hết, đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, T và chị K vào nhà để nghỉ ngơi, khi vào nhà T hỏi chị K là trong thời gian T vắng nhà (đi làm ăn xa), chị K ở nhà không chung thủy với T phải không? Chị K không trả lời, T doạ nếu chị K không nói thì T sẽ đốt nhà, chị K không nói gì và bế con đi sang nhà bố mẹ đẻ để ngủ. Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 17/01/2023, do bực tức trong người, T đã lấy can xăng loại 10 lít để ở trong nhà của T và chị K, bên trong can còn khoảng 01 (một) lít xăng, rồi đổ xăng vung vãi khắp nhà, sau đó T dùng bật lửa gas đốt tờ bìa catton châm lửa đốt nhà. Sau đó, lửa cháy to, T bỏ chạy ra khỏi nhà, lửa cháy quá lớn, cháy nhà T và chị K, sau đó đã cháy lan sang nhà ông Lò Văn Ầ, sinh năm 1969 (ở cùng bản với T). Kết quả cả nhà chị Lò Thị K và nhà ông Lò Văn Ầ đều bị cháy hết cùng các tài sản trong nhà. Sau khi thấy lửa cháy to quá, không thể dập được, Hoàng Văn T đã đến Công an xã M để đầu thú.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger