|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Bản án số: 719/2024/HS-PT |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Ngày: 09/9/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: | Bà Trần Thị Quỳnh; |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Thế Lệ; |
| Ông Nguyễn Trọng Đoàn. |
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Vy Minh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Vũ Quang Huy - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 528/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Đức H.
Do có kháng cáo của các bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS- ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Bị cáo bị kháng cáo:
Nguyễn Đức H, sinh năm 1995, tại Bắc Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: khu N, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, tự bỏ sinh hoạt Đảng từ tháng 11/2022, (đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng từ ngày 26/2/2024); con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1972; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; có vợ là Ngô Thị Thắm H2, sinh năm 1995 và 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/4/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức H (do chỉ định): Luật sư Vũ Văn X - Luật sư thuộc Chi nhánh Công ty L4- Chi nhánh B, Đoàn Luật sư tỉnh B, có mặt
* Những bị hại có kháng cáo:
- Anh Đàm Công H3, sinh năm 1983; trú tại: B, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1991; trú tại: Khu phố G, phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; (Chị T đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án); có mặt. Người bảo vệ quyền và nghĩa vụ cho chị Nguyễn Thị T- Luật sư Trần Hoàng Hùng C- Luật sư thuộc Công ty TNHH C2, Đoàn Luật sư tỉnh B, có mặt.
- Chị Lê Thị X1, sinh năm 1986 (có mặt) và chồng là anh Nguyễn Bá Q, sinh năm 1985 (vắng mặt); trú tại: Khu N, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Anh Phạm Trường A, sinh năm 1980; trú tại: Khu T, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
- Anh Phạm Khắc G, sinh năm 1975; trú tại: Khu T, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
- Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1982; trú tại: Khu phố Y, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Anh Phạm Đình V, sinh năm 1987; trú tại: Khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
Trong vụ án còn có 14 bị hại khác không có kháng cáo, Toà án cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 19 tháng 3 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC03) Công an tỉnh B tiếp nhận đơn tố giác về tội phạm của anh Đàm Công H3 nội dung: Tố cáo Nguyễn Đức H có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh H3 thông qua việc ký Biên bản thoả thuận tự nguyện góp vốn để giao dịch đất dự án tại T, Bắc Ninh. Anh H3 giao nộp cho Cơ quan điều tra 35 Biên bản tự nguyện góp vốn giữa anh Đàm Công H3 với Nguyễn Đức H nội dung về việc anh H3 góp vốn để mua của H các lô đất và các tài liệu liên quan đến việc anh H3 chuyển tiền cho Nguyễn Đức H.
Ngày 09 tháng 4 năm 2023, Nguyễn Đức H đến đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC03) Công an tỉnh B, khai nhận về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh Đàm Công H3 và H còn khai nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của một số người khác tương tự như hành vi H đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh H3.
Ngày 10/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh B, giám định chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Đức H trên 35 Biên bản tự nguyện góp vốn ký kết giữa Nguyễn Đức H và Đàm Công H3 (ký hiệu A1 đến A35), mẫu so sánh là chữ ký, chữ viết của Nguyễn Đức H tại các Biên bản ghi lời khai, bản tự khai, đơn xin đầu thú của Nguyễn Đức H ngày 07/4/2023 (ký hiệu M1 đến M4).
Tại Bản Kết luận giám định số 859/KL-KTHS ngày 12/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B, Kết luận: “Chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Đức H trên tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A35) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Đức H trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1 đến M4) do cùng một người ký, viết ra.”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ban hành Văn bản thông báo đến các địa phương để tìm người bị hại trong vụ án.
Quá trình điều tra đã xác định được hành vi phạm tội của Nguyễn Đức H cụ thể như sau:
Nguyễn Đức H trước đó là giáo viên Trường Tiểu học T14, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, tháng 11/2022 thì H nghỉ việc. Từ khoảng đầu năm 2021, H tham gia đánh bạc trên trang mạng 92lottery.bet và thường xuyên bị thua cược với số tiền lớn. Thời điểm đó H được biết tại xã A; xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh và một số địa phương khác trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đang tiến hành đền bù, giải phóng mặt bằng để đấu giá quyền sử dụng đất ở (H không biết tên dự án), đồng thời H cũng xin được bản vẽ dự án đất đấu giá trên. Do đang cần tiền để đánh bạc trên mạng và chi tiêu cá nhân, H đã tự đặt tên cho bản vẽ các dự án đất mà mình xin được là: Dự án Khu đô thị A, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; dự án khu đô thị X, T, Bắc Ninh; dự án khu đô thị C và dự án khu đô thị T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó H đưa ra các thông tin gian dối, không có thật với mọi người là H có các mối quan hệ với các lãnh đạo và có các xuất đất ngoại giao tại các dự án trên đang có nhu cầu bán, nếu người nào muốn mua thì phải tham gia từ đầu, giá sẽ thấp hơn giá thị trường và chỉ phải đóng theo từng giai đoạn. Trên thực tế H không biết, không có vai trò gì về các dự án trên và H cũng không có lô đất nào để bán. Để tạo niềm tin cho mọi người, H đã tự soạn thảo các Biên bản tự nguyện góp vốn, nội dung người mua góp vốn để mua của H một hoặc nhiều lô đất có diện tích, giá cả cụ thể của từng lô tại các dự án trên, phương thức thanh toán tiền và việc H cam kết chuyển nhượng các lô đất tại dự án trên cho người mua. Khi người mua và H ký xong Biên bản tự nguyện góp vốn thì được đóng vào phong bì dán kín, H ký tên để niêm phong, H giữ 01 bản và giao cho khách hàng (người mua) 01 bản. H yêu cầu khách hàng không được bóc phong bì, nếu tự ý bóc phong bì ra thì biên bản góp vốn sẽ không còn hiệu lực. Khách hàng (người ký biên bản tự nguyện góp vốn để mua đất với H) phải chuyển tiền trước cho H theo nội dung biên bản thoả thuận.
Bằng phương thức và thủ đoạn nêu trên, trong khoảng thời gian từ cuối năm 2021 đến tháng 10 năm 2022, Nguyễn Đức H đã lừa đảo tổng số 16 người, ký với H 136 Biên bản tự nguyện góp vốn, gồm: 121 Biên bản tự nguyện góp vốn tại dự án xã A; 13 Biên bản tự nguyện góp vốn tại xã N, T, Bắc Ninh; 01 Biên bản tự nguyện góp vốn tại dự án khu đô thị C và 01 Biên bản tại dự án khu đô thị T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi người ký biên bản tự nguyện góp vốn chuyển tiền cho H thì H đã chiếm đoạt toàn bộ số tiền của các bị hại, đồng thời sử dụng vào việc đánh bạc và chi tiêu cá nhân hết. Cụ thể H đã ký Biên bản tự nguyện góp vốn với 16 người và chiếm đoạt số tiền từng người như sau:
- Anh Đàm Công H3, sinh năm 1983 nơi thường trú: B, thị trấn H, T, Bắc Ninh (nay là khu B, phường H, thị xã T). Khoảng đầu tháng 3/2022, Nguyễn Đức H nói với anh H3 là H có các lô đất ngoại giao tại dự án khu đô thị A, xã A, T, Bắc Ninh, nếu vào từ đầu thì giá thấp hơn so với giá thị trường, đóng từng giai đoạn. Do tin lời H nên trong thời gian từ giữa tháng 3/2022 đến tháng 5/2022, anh H3 đã ký với H tổng số 56 Biên bản tự nguyện góp vốn để mua 56 lô đất của H đất tại dự án khu đô thị A, xã A, T, Bắc Ninh. Sau khi ký xong biên bản, từ ngày 16/3/2022 đến ngày 06/6/2022, anh H3 đã chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của mình, số 2607205174200 Ngân hàng A2 mang tên Đàm Công H3 vào tài khoản ngân hàng của H, số 2607215039275 Ngân hàng A2 mang tên Nguyễn Đức H tổng số 1.600.000.000 đồng và anh Nguyễn Quang T1, sinh năm 1981, nơi thường trú: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (là anh em đồng hao của H3) chuyển từ tài khoản của anh T1, số 2607666666789 Ngân hàng A2 mang tên Nguyễn Quang T1 vào tài khoản ngân hàng của H, số 2607215039275 Ngân hàng A2 mang tên Nguyễn Đức H tổng số 39.460.000.000 đồng, tổng số tiền anh H3 và anh T1 đã chuyển cho H là 41.060.000.000 đồng, ngoài ra anh H3 còn một số lần đưa tiền mặt cho H nhưng anh H3 không nhớ và không viết giấy biên nhận gì. Việc anh Nguyễn Quang T1 chuyển số tiền 39.460.000.000 đồng cho H là vì anh H3 và anh T1 cùng mua chung 56 lô đất của H, còn việc ký biên bản thoả thuận góp vốn là do anh H3 trực tiếp ký với H sau đó anh H3 báo lại với anh T1.
- Bán cho anh Trần Đức Q1, sinh năm 1976 ở khu phố H, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh 03 lô gồm: lô số 03-CL6, 18,19-CL8 với tổng số tiền: 3.700.000.000 đồng. Theo Biên bản tự nguyện góp vốn thì anh T1 nộp cho H 03 lô đất tổng số tiền là 2.108.000.000 đồng, anh T1 thu của anh Q1 chênh lên 1.592.000.000 đồng. Thực tế do anh T1, anh H3 và anh Q1 có mối quan hệ họ hàng với nhau nên anh Q1 đã đưa số tiền 1.592.000.000 đồng cho anh T1 để cùng làm ăn chung với nhau.
- Bán cho chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1984 ở M, T, Bắc Ninh 07 lô, gồm: 7, 9 CL6; 11-CL9; 10, 35, 36 CL5; 7-CL3 với tổng số tiền: 10.892.000.000 đồng. Do chị N mới đưa lại cho anh T1 01 phong bì thư (lô số 11-CL9), 06 lô còn lại hiện chị N vẫn giữ nên anh T1 không nhớ đã bán chênh lệch bao nhiêu tiền so với biên bản đã ký với Nguyễn Đức H. Hiện nay, anh T1 đã bàn giao cho chị N lô đất do anh T1 sở hữu trị giá: 3.352.000.000 đồng, số tiền còn lại anh T1 đang nợ chị N là: 7.540.000.000 đồng.
- Bán cho anh Nguyễn Hữu N1, sinh năm 1977 ở T, M, T, Bắc Ninh 01 lô đất số 24-CL6 với giá 1.750.000.000 đồng. Theo Biên bản tự nguyện góp vốn thì anh T1 nộp cho H là 1.000.000.000 đồng, anh T1 bán cho anh N1 chênh lên 750 triệu đồng. Anh T2 khai năm 2021, anh T2, anh N1 và anh Trần Đức Q1 có mua chung với nhau 03 lô đất tại dự án khu đấu giá quyền sử dụng đất tại thôn F, xã T, TP T, tỉnh Thanh Hóa với giá gần 2,7 tỷ đồng (mỗi người nộp gần 900 triệu đồng). Hiện nay, anh Q1 và anh T2 thống nhất với nhau đồng ý giao toàn bộ giấy tờ, quyền lợi sở hữu của 02 lô đất cho anh N1 coi như đã thanh toán cho anh N1 số tiền 1.750.000.000 đồng mà anh N1 đã nộp.
- Bán cho anh Nguyễn Khắc H4, sinh năm 1977 ở T, M, T, Bắc Ninh 01 lô đất số 18-CL6 với giá 1.858.000.000 đồng. Theo Biên bản tự nguyện góp vốn thì anh T2 nộp cho H số tiền là 1.054.000.000 đồng, anh T2 bán cho anh H4 chênh lên 804 triệu đồng.
- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1991, nơi thường trú: khu phố G, A, T, Bắc Ninh. Khoảng tháng 4/2022, Nguyễn Đức H nói với chị T là H có các lô đất ngoại giao tại dự án khu đô thị A, nếu vào từ đầu thì giá thấp hơn so với giá thị trường. Do tin lời H, ngày 11/5/2022, chị T3 đã ký với H 02 biên bản tự nguyện góp vốn, nội dung chị T góp vốn để mua của H 02 lô đất, gồm lô số 01 - CL2 và lô số 37 - CL3, mỗi lô diện tích 100 m2 tại Dự án Khu đô thị A, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, mỗi lô giá 1.600.000.000 đồng. Chị T đã giao cho H 1.000.000.000 đồng bằng tiền mặt (không viết giấy biên nhận), chị T chưa bán lại cho ai.
- Chị Lê Thị X1, sinh năm 1986, nơi thường trú: N, T, T, Bắc Ninh. Khoảng tháng 12 năm 2021 đến tháng 3 năm 2022, Nguyễn Đức H nói chuyện với chị X1 về các dự án khu đô thị T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh, dự án đất giãn dân tại xã N, T, Bắc Ninh và dự án đất khu đô thị A, T, Bắc Ninh và hỏi chị có đầu tư mua đất dự án không vì H có thể lấy được xuất đất ngoại giao. Do tin lời H nên chị X1 và chồng chị là anh Nguyễn Bá Q đã ký với H 17 biên bản tự nguyện góp vốn nội dung chị mua của H 17 lô đất, gồm 01 lô đất tại khu đô thị T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; 07 lô đất tại dự án khu đô thị X, T, Bắc Ninh và 09 lô đất tại dự án giãn dân N, xã N, T, Bắc Ninh. Tổng số tiền chị X1 đã trả cho H để mua 17 lô đất trên là 10.080.000.000 đồng, gồm trả bằng tiền mặt là 5.670.000.000 đồng và chuyển khoản 4.410.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của chị X1, số 2607519851986 ngân hàng A2 đến tài khoản ngân hàng của H, số 307704070000480 Ngân hàng H16 mang tên Nguyễn Đức H.
- Anh Phạm Trường A, sinh năm 1980, nơi thường trú: T, G, T, Bắc Ninh. Qua chị Nguyễn Thị T ở A, T Bắc Ninh, anh biết Nguyễn Đức H. Khoảng tháng 3/2022, H nói với anh Trường A là H có các lô đất xuất ngoại giao tại dự án đất giãn dân A, T nếu muốn mua thì H bán cho với giá hợp lý. Nghe H nói vậy, anh tin tưởng, đồng ý mua các lô đất của H. Sau đó anh Trường A và Nguyễn Đức H ký với nhau 06 biên bản tự nguyện góp vốn, nội dung Trường A mua của H 06 lô đất tại dự án giãn dân A, T, gồm lô số 06, 07-CL7; 16-CL9; 41, 42, 60 -CL6 mỗi lô diện tích 100m2, giá 1.200.000.000 đồng/lô tại dự án giãn dân A, T, Bắc Ninh, giá từ 14 triệu đồng đến 16 triệu đồng/01m2. Ngoài ra anh còn mua lại của anh Vũ Văn L1 ở C, L, G, Hà Nội 02 lô là 09, 10-CL7 cùng diện tích 100m2 cũng tại dự án giãn dân A (anh L1 là em họ của Trường A). Khi anh L1 và H ký biên bản tự nguyên góp vốn với nhau xong. Lúc đó anh L1 chưa có tiền nên anh mua lại và anh trực tiếp đưa cho H 100 triệu đồng tiền mặt, anh không ký lại biên bản với H mà lấy luôn biên bản H và L1 ký với nhau lô số 09, 10- CL7. Anh Trường A đã chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng của anh, số [...] Ngân hàng MB mang tên Phạm Trường A đến tài khoản của Nguyễn Thị T, số 1022107902 Ngân hàng V4 số tiền 700 triệu đồng và sử dụng số tài khoản nêu trên của anh chuyển tiền đến các số tài khoản của H, gồm số: 307704070000480 Ngân hàng H16, số [...] Ngân hàng A2, số 0972538921 Ngân hàng V3 đều mang tên Nguyễn Đức H tổng số là 4.550.000.000 đồng và đưa 1.350.000.000 đồng tiền mặt cho Nguyễn Đức H. Tổng số tiền anh Trường A đã đưa cho H và chị T là: 6.600.000.000 đồng (chị T 700 triệu đồng, H 5 tỷ 900 triệu đồng), anh Trường A không rõ chị T đã đưa số tiền này cho H hay chưa.
- Chị Nguyễn Thị T6, sinh năm: 1988 ở T, G, T, Bắc Ninh lô số 06 - CL7 với giá 770 triệu đồng, lô số: 16-CL9 với giá 800.000.000 đồng và đã nhận của chị T6 tổng số tiền là 1.570.000.000 đồng, số tiền này anh Phạm Trường A thu của chị T6 bằng cả tiền mặt và chuyển khoản (hiện nay không nhớ số tiền cụ thể tiền mặt, tiền chuyển khoản là bao nhiêu).
- Chị Nguyễn Thị H5, sinh năm: 1985 ở T, G, T, Bắc Ninh lô số 60 – CL6 với giá 650 triệu đồng, số tiền này anh Phạm Trường A thu của chị H5 bằng cả tiền mặt và chuyển khoản (hiện nay không nhớ số tiền cụ thể tiền mặt, tiền chuyển khoản là bao nhiêu). Anh Trường A giao cho chị T6 và chị H5 phong bì thư dán kín 02 lô đất trên.
- Anh Phạm Khắc G, sinh năm 1975, nơi thường trú: T, G, T, Bắc Ninh. Đầu tháng 3/2022 anh đi cùng anh Phạm Trường A đến gặp chị Nguyễn Thị T ở A, T, Bắc Ninh (trước đó anh Trường A quen biết chị T). Sau đó chị T có giới thiệu anh G với Nguyễn Đức H. H nói với anh G là H có các suất đất ngoại giao tại dự án giãn dân A, T, Bắc Ninh muốn bán, nếu mua thì H để cho với giá cả hợp lý. Do tin lời H nên anh đã đồng ý mua các lô đất của H. Anh đã ký với H 24 biên bản tự nguyện góp vốn để mua của H 24 lô đất tại Dự án Khu đô thị A, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Anh G đã chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng của anh, số 1591000052493 Ngân hàng B1 mang tên Phạm Khắc G đến tài khoản của H, số 307704070000480 Ngân hàng H16 mang tên Nguyễn Đức H với số tiền là 10.980.000.000 đồng, nhờ người khác chuyển khoản cho H 4.300.000.000 đồng và đưa cho H 3.350.000.000 đồng bằng tiền mặt (việc đưa tiền mặt không viết biên nhận). Tổng số tiền anh G đã giao cho H là 18.630.000.000 đồng.
- Chị Đỗ Thị T7, sinh năm 1986 ở Đ, S, T, Bắc Ninh 04 lô, gồm số 09, 10 - CL6; 15, 19 - CL9 với giá 4.810.000.000 đồng, số tiền này anh G thu của chị T7 bằng cả tiền mặt và chuyển khoản (hiện nay anh G không nhớ số tiền cụ thể tiền mặt, tiền chuyển khoản là bao nhiêu). Theo hợp đồng đối với 04 lô trên anh G ký với Nguyễn Đức H thì anh G chuyển cho H số tiền 3.700.000.000 đồng. Anh G đã bán chênh cho chị T7 số tiền là: 1.110.000.000 đồng.
- Anh Nguyễn Khắc H6, sinh năm 1989 ở phường H, T, Bắc Ninh 01 lô: số 06 - CL3 với giá 750 triệu đồng, số tiền này anh H6 chuyển khoản cho anh G. Theo hợp đồng đối với lô này anh G ký với Nguyễn Đức H thì anh G chuyển cho H số tiền 700.000.000 đồng. Anh G đã bán chênh cho anh Hiệu số tiền là: 50.000.000 đồng.
- Chị Nguyễn Thị X2, sinh năm 1966 ở P, T, T, Bắc Ninh 01 lô: số 03 - CL3 với giá 950 triệu đồng, số tiền này anh G thu của chị X2 bằng cả tiền mặt và chuyển khoản (hiện nay không nhớ số tiền cụ thể tiền mặt, tiền chuyển khoản là bao nhiêu). Theo hợp đồng đối với lô đất này anh G ký với Nguyễn Đức H thì anh G đã chuyển cho H số tiền 700.000.000 đồng. Anh G đã bán chênh cho chị T7 số tiền là: 250.000.000 đồng.
- Chị Nguyễn Thị A1, sinh năm: 1973 ở Đ, Đ, T, Bắc Ninh 09 lô: số 06, 07 - CL2; 02 - CL3; 48, 57, 58, 59 - CL6 và 02, 03 - CL9 với giá 9.250.000.000 đồng, số tiền này anh G thu của chị A1 bằng cả tiền mặt và chuyển khoản (anh G không nhớ số tiền cụ thể tiền mặt, tiền chuyển khoản là bao nhiêu). Theo hợp đồng đối với 09 lô trên anh G đã ký với Nguyễn Đức H thì anh G chuyển cho H số tiền 6.300.000.000 đồng. Anh G đã bán chênh cho chị A1 số tiền là: 2.950.000.000 đồng.
- Chị Lê Thị M, sinh năm 1986 ở Đ, Đ, T, Bắc Ninh 02 lô: số 04, 05 - CL3 với giá 2.000.000.000 đồng, số tiền này anh G thu của chị M bằng cả tiền mặt và chuyển khoản (anh G không nhớ số tiền cụ thể tiền mặt, tiền chuyển khoản là bao nhiêu). Theo hợp đồng đối với 02 lô trên anh G đã ký với Nguyễn Đức H thì anh G đã chuyển cho H số tiền 1.400.000.000 đồng. Anh G đã bán chênh cho chị M số tiền là: 600.000.000 đồng.
- Chị Nguyễn Thị H7, sinh năm 1990, nơi thường trú: khu phố C, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Tháng 7/2022, H nói với chị H7 là H quen biết nhiều người ở huyện, tỉnh và mời chị H7 đầu tư các dự án bất động sản, do tin tưởng nên chị H7 đồng ý. Ngày 25/7/2022, chị H7 cùng chồng là Đỗ Đăng T8 ký với H 02 biên bản góp vốn, nội dung vợ chồng chị H7 góp vốn cho H để mua của H 02 lô đất, gồm lô số 16-LK2 diện tích 100m2 tại Dự án Khu đô thị N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, giá 1.700.000.000 đồng và lô số 09-LK1 Dự án Khu đô thị C, tỉnh Bắc Ninh, giá 1.080.000.000 đồng kèm theo Hợp đồng đặt cọc tương ứng với 02 lô đất. Chị H7 đã giao cho H số tiền là 1.000.000.000 đồng. gồm chuyển khoản 100.000.000 đồng từ tài khoản số 0351001223292 Ngân hàng V4 mang tên Nguyễn Thị H7 đến tài khoản của H, số 0972538921 ngân hàng V3 mang tên Nguyễn Đức H, số còn lại giao bằng tiền mặt. Sau đó chị H7 nhiều lần liên lạc với H nhưng không liên lạc được và H chuyển khoản trả cho chị 75.000.000 đồng đến số tài khoản 0351001223292 Ngân hàng V4 của chị H7. Số tiền còn lại H chiếm đoạt của chị H7 là: 925.000.000 đồng. Hiện nay chị H7 chưa bán 02 lô đất này cho ai.
- Anh Nguyễn Văn L2, sinh năm 1991, nơi thường trú: Đông Ngoại, xã N, T, Bắc Ninh, khoảng tháng 6/2022 H nói với anh L2 là H có mấy suất đất ngoại giao tại khu đô thị N, T, mua trước giá thấp hơn giá thị trường, anh L2 tin tưởng nên đã đồng ý mua của H 02 lô đất. Ngày 06/7/2022 anh L2 ký với H 02 biên bản tự nguyện góp vốn, nội dung góp vốn để mua của H lô đất số 12-LK5 và lô số 03LK7 tại Khu đô thị N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Mỗi lô 100m2, giá 1.800.000.000 đồng/lô. Anh L2 đã giao cho H tổng số tiền là 1.760.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản của anh L2, số C, ngân hàng V4 đến tài khoản của H, số 0972538921 ngân hàng V3 mang tên Nguyễn Đức H. Hiện nay anh L2 chưa bán 02 lô đất này cho ai.
- Chị Vương Thương T5, sinh năm 1984, nơi thường trú: N, A, T, Bắc Ninh. Chị T5 quen biết H thông qua chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1991, nơi thường trú: A, T, Bắc Ninh. Đầu tháng 02/2022. H có nói với chị là H có mấy suất đất ngoại giao, nếu chị muốn mua thì giá thấp hơn. Chị đã ký với H 05 biên bản tự nguyện góp vốn, nội dung góp vốn để mua của H 07 lô đất, gồm các lô số 25-CL5; số 26-CL5; số 34-CL5; số 35-CL5 mỗi lô diện tích 108 m2, giá 1.728.000.000 đồng/lô và các lô số 19, 20, 21- CL7 diện tích mỗi lô 100m2, giá 1.400.000.000 đồmg/lô tại Dự án giãn dân A, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Chị T5 đã đưa cho H tổng số tiền: 3.500.000.000 đồng (Ba tỷ năm trăm triệu đồng) bằng tiền mặt. Chị Thương yêu cầu H8 phải trả chị số tiền 3.500.000.000 đồng
- Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1982, nơi thường trú: Y, G, T, Bắc Ninh. Khoảng đầu tháng 2/2022, H8 nói với chị S là H8 lấy được các suất đất ngoại giao, nếu chị S mua thì H8 bán cho giá thấp hơn giá thị trường. Chị S đồng ý và đã ký với H8 03 biên bản tự nguyện góp vốn, nội dung góp vốn để mua của H8 06 lô đất tại Dự án là Khu đô thị A, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, gồm lô số 24, số B - CL5, diện tích mỗi lô 108 m2, giá 1.728.000.000 đồng/lô và các lô số: 22, 23, 24, 25 - CL7 diện tích mỗi lô 100m2, giá 1.400.000.000 đồng/lô. Chị S đã giao cho H8 tổng số tiền: 3.000.000.000 đồng, bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản của chị S, số 2607205163521 ngân hàng A2 mang tên Nguyễn Thị S đến tài khoản của H8, số 2607215039275 ngân hàng A2 mang tên Nguyễn Đức H. Chị S yêu cầu H phải trả 3 tỷ đồng.
- Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1994, nơi thường trú: Thường Vũ, A, T, Bắc Ninh. Anh biết Nguyễn Đức H thông qua chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1991 ở A, T, Bắc Ninh. Đầu tháng 4 năm 2022 chị T hỏi anh có mua đất ở khu đã đền bù giải phóng mặt bằng ở Cống xã cạnh trục chính đi vào A, T, giá là 01 tỷ 700 triệu đồng, nếu mua phải vào trước 700 triệu đồng/01 lô, do là họ hàng nên anh đồng ý mua 01 lô đất, ngày 15/4/2022 anh đã đặt cọc cho chị T 200 triệu đồng bằng tiền mặt. Ngày 20/4/2022 chị T bảo anh đến nhà chị T ký hợp đồng. Khi đến, chị T bảo anh ký với Nguyễn Đức H. Anh L đã ký với H 01 biên bản tự nguyện góp vốn, nội dung góp vốn để mua của H 01 lô đất, số 02-CL2 diện tích 100 m2 tại Dự án giãn dân A, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, giá vào hợp đồng là 01 tỷ 600 triệu đồng, thu ngoài hợp đồng là 100 triệu đồng, ngày 20/4/2022 anh đưa cho H 500 triệu đồng tiền mặt. Tổng số tiền anh L đã đưa cho chị T và H là 700 triệu đồng, anh L chưa bán lô đất này cho ai. Anh yêu cầu H và chị T phải trả anh số tiền 700 triệu đồng.
- Anh Phạm Đình V, sinh năm 1987, nơi thường trú: T, G, T, Bắc Ninh. Khoảng tháng 3 năm 2022, anh V và anh Phạm Trường A, (cùng quê với anh V) có đến nhà chị Nguyễn Thị T ở A, T, Bắc Ninh. Chị T có nói với anh V là Nguyễn Đức H có các suất đất ngoại giao tại dự án A, T, Bắc Ninh, anh V hỏi thì chị T nói còn lô số 21-CL8, anh đã đặt cọc cho chị T số tiền 35 triệu đồng (lô số 21-CL8). Ngày 10/4/2022 anh V đến nhà chị T và gặp Nguyễn Đức H. Anh V đã ký với Nguyễn Đức H 03 biên bản tự nguyện góp vốn nội dung góp vốn để mua của H 03 lô đất, gồm lô số 05-CL2, số 17-CL9, số 21-CL8, diện tích mỗi lô 100m2 tại Dự án giãn dân A, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, giá 1.600.000.000 đồng/lô. Anh V đã giao cho Nguyễn Đức H tổng số 1.865.000.000 đồng, gồm chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng của anh, số 9704229253600899 và số 03011987668 Ngân hàng MB mang tên Phạm Đình V đến tài khoản ngân hàng của H, số 26072538921 Ngân hàng V3 mang tên Nguyễn Đức H 1.535.000.000 đồng và đưa tiền mặt cho H 330.000.000 đồng. Anh V chuyển khoản cho chị Nguyễn Thị T từ 02 số tài khoản nêu trên của anh đến tài khoản của chị Nguyễn Thị T, số 2607205209515 Ngân hàng A2 và số tài khoản 1022107902 Ngân hàng V4 mang tên Nguyễn Thị T tiền cọc là 285 triệu đồng. Tổng số tiền anh V đã giao cho Nguyễn Đức H và chị T là: 2.150.000.000 đồng.
- Chị Ưng Thị H13, sinh năm 1987, nơi thường trú: T, P, T, Bắc Ninh. Chị H13 quen biết Nguyễn Đức H từ đầu năm 2022, cuối tháng 6/2022 H nói với chị là H có đất tại dự án A, T, Bắc Ninh và cho chị xem sơ đồ khu đất dự án đó, H nói là có các suất đất ngoại giao nếu mua thì H để giá rẻ cho, do tin tưởng nên chị đã đồng ý mua của H 02 lô đất. Chị H13 đã ký với H 01 biên bản tự nguyện góp vốn và nhờ anh Ưng Sỹ Đ2, sinh năm 1990 cùng quê với chị H13 ký với H 01 biên bản tự nguyện góp vốn để mua của H 02 lô đất tại dự án Khu đô thị A, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, lô số 41; 66-CL6 diện tích mỗi lô 100m2, giá 1.300.000.000 đồng/lô. Sau khi ký biên bản tự nguyện góp vốn, chị H13 đã chuyển khoản cho H số tiền là 780 triệu đồng. Ngoài 02 biên bản tự nguyện góp vốn trên, chị H13 còn đặt cọc chuyển khoản cho H 200 triệu đồng để góp vốn lô 01 - LK3 và lô 01 -LK4 tại dự án N, T, Bắc Ninh. Chị H13 sử dụng tài khoản ngân hàng của mình, số 2021000102426 Ngân hàng TMCP Q2 (MB) mang tên Ưng Thị H13 chuyển đến số tài khoản của H, số 0972538921 Ngân hàng TMCP C3 mang tên Nguyễn Đức H. Sau đó H đã trả chị 60 triệu đồng tiền đặt cọc mua đất dự án N, T. Số tiền còn lại Nguyễn Đức H chiếm đoạt của chị Ung Thị H13 là 920.000.000 đồng. Hiện nay chị H13 chưa bán lại cho ai các lô đất trên.
- Anh Vương Văn T4, sinh năm 1995, nơi thường trú: Thường Vũ, A, T, Bắc Ninh. Đầu tháng 4 năm 2022, chị Nguyễn Thị T ở khu phố G, A, T, Bắc Ninh (là chị con nhà bác của anh T4) có mua đất ở khu đã đền bù giải phóng mặt bằng ở Cống xã đường trục chính đi vào A, T, giá 1 lô là 1,7 tỷ đồng. Anh T4 đồng ý mua của chị T 02 lô đất, ngày 15/4/2022 Tưởng đặt cọc tiền CL2 lô 123 cho chị T 150 triệu đồng, sau đó anh mua lô 03, 04-CL2. Anh đến nhà chị T và Nguyễn Đức H ở đó thì chị T bảo anh ký hợp đồng với Nguyễn Đức H. Anh T4 ký với H 01 biên bản thoả thuận góp vốn, nội dung anh T4 góp vốn để mua của H 02 lô đất, số 03, 04-CL2 diện tích mỗi lô 100m2 tại Dự án giãn dân A, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, giá vào hợp đồng 1 lô là 1.600.000.000 đồng, thu ngoài hợp đồng 1 lô là 100.000.000 đồng. Anh T4 đã chuyển khoản từ tài khoản của anh, số [...] Ngân hàng TMCP C3- chi nhánh H17 mang tên Vương Văn T4 đến tài khoản ngân hàng của H, số 0972538921 Ngân hàng A2 mang tên Nguyễn Đức H 550.000.000 đồng và đưa tiền mặt cho H là 700.000.000 đồng (không viết giấy biên nhận). Tổng số tiền anh T4 đã đưa cho chị T và Nguyễn Đức H là 1.400.000.000 đồng. Anh T4 chưa bán lại lô đất cho ai. Anh T4 yêu cầu chị T và H phải trả cho anh số tiền anh đã giao cho nêu trên.
- Chị Ngô Thị H12, sinh năm 1991, nơi thường trú: N, T, T, Bắc Ninh. Khoảng tháng 6 năm 2022, Nguyễn Đức H nói với chị H12 là H có 02 lô đất ở khu giãn dân A, T, Bắc Ninh. Do cần tiền nên muốn bán cho chị với giá nhập của chủ đầu tư, nếu chị mua H bán giá hoà cho chị. Do tin lời H nên chị đồng ý mua và chị đã ký với H 02 biên bản góp để mua của H 02 lô đất tại dự án Giãn dân xã A, A, T, Bắc Ninh (lô số 50; 51- CL6) mỗi lô diện tích 100m2, giá 1.4000.000.000 đồng/lô. Chị H12 đã giao cho H số tiền: 1.000.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng của chị, số 19035844021010 Ngân hàng TMCP K2 chi nhánh B mang tên Ngô Thị H12 đến tài khoản ngân hàng của H, số 0972538921 Ngân hàng TMCP C3 mang tên Nguyễn Đức H. Chị H12 chưa bán lại cho ai các lô đất trên.
- Chị Ngô Thị H10, sinh năm 1988, nơi ở hiện tại: khu B, phường V, TP B, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng tháng 02 năm 2022, Nguyễn Đức H nói với chị H10 có 01 lô đất tại dự án khu đô thị N, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh do H mua của một người khác, cuối tháng 02/2022 sẽ vào hợp đồng với chủ đầu tư, H thoả thuận bán cho chị giá 22 triệu đồng/01m2. Chị đồng ý và ký với H 01 biên bản tự nguyện góp vốn để mua lô đất số 9-LK1 diện tích 100m2 tại dự án khu đô thị N, xã N, T, Bắc Ninh với giá 2.200.000.000 đồng. Chị H10 đã đưa cho H 600 triệu đồng, gồm 500 triệu đồng bằng tiền mặt (không viết biên nhận). Lô đất này chị H10 đã bán lại cho anh Nguyễn Văn V2, sinh năm 1987 ở Y, G, T, Bắc Ninh với giá 800 triệu đồng, được lãi 200 triệu đồng, chị H10 cam kết sẽ giao nộp tiền lãi này khi cơ quan pháp luật yêu cầu.
- Ông Phạm Tiến T13, sinh năm 1955, nơi thường trú và nơi ở: số C Đ, phường N, TP B, tỉnh Bắc Ninh. Đầu tháng 3 năm 2022, Nguyễn Đức H nói với ông T13 là có suất đất ngoại giao muốn bán, nếu ông muốn mua thì vào từ đầu giá sẽ thấp hơn giá thị trường và chỉ vào từng giai đoạn. Ông T13 tin tưởng là thật nên đồng ý mua, ngày 16/3/2022 ông T13 ký với H 01 biên bản tự nguyện góp vốn để mua lô đất số 08-CL7, diện tích 100 m2, giá 1.400.000.000 đồng tại dự án Giãn dân xã A, T, Bắc Ninh. Ông T13 đã đưa cho H số tiền là: 500.000.000 đồng bằng tiền mặt (không viết biên nhận). Hiện ông T13 chưa bán lại lô đất cho ai.
Sau đó, anh H3 và anh T1 có bán lại cho 04 người 12 lô đất thu về số tiền 18.200.000.000 đồng, cụ thể:
Anh T2 khai hiện nay, anh T2 có bàn giao cho anh H4 một bộ hồ sơ gồm 01 lô đất số: H21, diện tích: 107.5m2 tại dự án khu đấu giá quyền sử dụng đất tại thôn F, xã T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Anh T2 đã nộp số tiền: 735.300.000 đồng (nộp tiền 95% giá trị lô đất) cho Chủ đầu tư. Lô đất này đứng tên Nguyễn Quang T1 theo Hợp đồng đăng ký đặt chỗ số: H21/2022/HDĐKĐC-GEO-NQT ngày 02/04/2022.
Anh H3 yêu cầu Cơ quan điều tra làm rõ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và yêu cầu H phải trả anh số tiền 41.060.000.000 đồng mà anh và anh T1 đã chuyển cho H và bị H chiếm đoạt nêu trên.
Anh Nguyễn Hữu N1 khai: Tháng 3/2022 anh N1 có mua của anh T1 lô đất số 24-CL6 dự án A, T, Bắc Ninh và đã chuyển cho anh T1 1.750.000.000 và đã được anh T1 bàn giao giấy tờ của 02 lô đất tại thôn F, T, thành phố T.
Chị Nguyễn Thị N khai: Khoảng tháng 4 năm 2022, chị có mua của anh T1 07 lô đất tại dự án A, T, Bắc Ninh với tổng số tiền là 10.892.000.000 đồng. Chị N đã thanh toán 10.892.000.000 đồng cho anh T1 bằng chuyển khoản và tiền mặt (không nhớ cụ thể chuyển khoản bao nhiêu và đưa tiền mặt bao nhiêu). Sau khi thanh toán tiền thì anh T1 đưa cho chị N 07 phong bì thư dán kín, nói bên trong là hợp đồng mua bán đất. Đến hẹn, anh T1 chưa giao đất, chị N đòi lại tiền, sau đó anh T1 thống nhất để lại cho chị 01 lô đất của anhTuấn trị giá 3.352.000.000 đồng và lấy lại 07 lô đất đã bán cho chị đồng thời viết giấy nợ chị số tiền còn lại là 7.540.000.000 đồng.
Anh Trần Đức Q1 khai:
Khoảng tháng 3/2022 anh có mua của anh T1 03 lô đất thuộc dự án khu đô thị X, T, Bắc Ninh là lô số 18, 19 CL8 và lô số 03-CL6 với giá 3.700.000.000 đồng. Anh đã chuyển khoản số tiền này từ tài khoản của anh, số [...] Ngân hàng V3 mang tên Trần Đức Q1 đến tài khoản của anh T1, số 2607666666789 Ngân hàng A2 mang tên Nguyễn Quang T1, những lô đất này anh chưa bán cho ai. Anh có bán hộ anh T1 01 lô đất số 18-CL6 cho anh Nguyễn Khắc H4, sinh năm 1977 ở T, M, T, Bắc Ninh, anh H4 đã chuyển khoản cho anh 1.858.000.000 đồng và anh đã giao cho anh T1. Anh có giao cho anh H4 01 phong bì thư dán kín, sau này anh biết bên trong phong bì là Biên bản thoả thuận góp vốn giữa anh Đàm Công H3 và Nguyễn Đức H. Năm 2021 anh và anh N1, anh T1 có mua 03 lô đất tại dự án khu đấu giá quyền sử dụng đất tại thôn F, xã T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa với giá gần 02 tỷ 700 triệu đồng (mỗi người nộp gần 900 triệu đồng), khi ký hợp đồng thì đều đứng tên anh Nguyễn Quang T1, A và anh T1 thống nhất với nhau giao cho anh N1 và H4 mỗi người hồ sơ 01 lô đất tại thôn F, xã T, thành phố T cho anh H4.
Anh Nguyễn Khắc H4 khai:
Cuối tháng 3/2022 anh có mua của anh Trần Đức Q1 01 lô đất số 18-CL6 dự án khu đô thị A, T, Bắc Ninh, anh đã đưa cho anh Quân số tiền là 1.858.000.000 đồng, sau khi anh Q1 nhận số tiền này thì anh Q1 đưa lại cho anh Nguyễn Quang T1. Đến nay anh T1 có bàn giao cho anh hồ sơ 01 lô đất số H21 tại dự án khu đấu giá quyền sử dụng đất tại thôn F, xã T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Chị T khai: Ngoài việc ký 02 biên bản tự nguyện góp vốn với H thì chị T còn giới thiệu cho anh Phạm Trường A ở T, G, T, anh Vương Văn T4, anh Nguyễn Văn L, chị Vương Thương T5 ở A ký biên bản tự nguyện góp vốn với H. Sau đó H có đưa cho chị T khoảng 300 triệu đến 400 triệu đồng (do chị T giới thiệu khách cho H), sau đó vài hôm thì H vay lại chị 400 triệu đồng, việc H đưa tiền cho chị và chị cho H vay tiền đều bằng tiền mặt, không có biên nhận gì. Chị T còn nhận tiền cọc (qua chuyển khoản) của anh Phạm Trường A 700 triệu đồng, anh Phạm Khắc G 700 triệu đồng, anh Phạm Đình V 285 triệu đồng, anh Vương Văn T4 150 triệu đồng và anh Nguyễn Văn L 100 triệu đồng bằng tiền mặt. Tổng tiền cọc của 05 người là 1.935.000.000 đồng. Nguyễn Đức H có chuyển khoản cho chị T số tiền là 1.015.000.000 đồng, lý do H chuyển tiền cho chị T là: trả tiền sổ đỏ, đổi tiền mặt, trả tiền vay, trả tiền bà Vương Thị Đ.
Tổng số tiền chị T nhận của H và 05 người trên là 2.955.000.000 đồng thì chị đã chuyển khoản cho H 1.810.000.000 đồng, chuyển khoản và đưa tiền mặt cho bà Đ ở T, A, T, Bắc Ninh tổng số 767.500.000 đồng (do trước đây H vay tiền bà Đ nên bảo chị T chuyển cho bà Đ), đưa tiền mặt 100 triệu đồng cho ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1960 ở khu phố G, A, T (do trước đây H nhận tiền của ông Đ1 để làm sổ đỏ cho ông Đ1 nhưng không làm được nên H nhờ chị T trả ông Đ1) số tiền còn lại chị T đưa tiền mặt cho H.
Lý do chị T giới thiệu khách cho H và nhận tiền cọc hộ H là do H nói H có quan hệ họ hàng với lãnh đạo huyện T, có các xuất đất ngoại giao, giá thấp hơn giá thị trường, do tin tưởng H nói vậy là đúng nên chị T mới làm vậy. Nay chị T yêu cầu H phải trả chị số tiền 1.000.000.000 đồng.
Trong số 17 lô đất thì chị X1 đã bán 08 lô đất tại dự án giãn dân N, xã N, T, Bắc Ninh gồm bán cho anh Nguyễn Hồng G1, sinh năm: 1980 ở khu phố N, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh 02 lô, còn lại 06 lô bán cho một số người khác, chị X1 khai không nhớ bán cho ai, giá bán cho anh G1 và những người khác là bao nhiêu tiền 01 lô và đã trả chị bao nhiêu tiền.
Anh Nguyễn Hồng G1 khai: Khoảng tháng 3/2022, anh có mua 02 lô đất 32LK3 và 04 LK1 dự án N của chị Lê Thị X1. Anh đã chuyển cho chị X1 tổng cộng là 2.350.000.000 đồng. Anh đề nghị chị X1 phải hoàn trả lại anh số tiền trên nếu không có đất; nếu có đất thì phải sang tên cho anh như thỏa thuận.
Ngoài ra anh Trường A còn dùng tài khoản ngân hàng của mình chuyển giúp anh Phạm Khắc G sinh năm 1975 ở T, G, T, Bắc Ninh cho Nguyễn Đức H số tiền 3.450.000.000 đồng.
Anh Phạm Trường A khai, anh đã bán lại cho 02 người tương đương với 03 lô đất với tổng số tiền: 2.220.000.000 đồng, cụ thể:
- Chị Nguyễn Thị H5 khai:
Khoảng cuối tháng 3 năm 2022 chị có nhờ anh Phạm Trường A mua hộ 01 lô đất thuộc dự án A, T, Bắc Ninh, cụ thể lô số 60-CL6 với giá 650 triệu đồng. Chị đã đưa cho anh Trường A 650 triệu đồng bằng chuyển khoản và tiền mặt (không nhớ cụ thể từng loại bao nhiêu). Sau đó anh Trường A đưa cho chị 01 phong bì dán kín, không rõ nội dung bên trong nhưng bên ngoài ghi lô 60-CL6 và chị giao nộp cho Cơ quan điều tra. Lô đất này chị chưa bán cho ai. Chị yêu cầu anh Phạm Trường A trả chị 650 triệu đồng.
- Chị Nguyễn Thị T6 khai:
Khoảng cuối tháng 3 năm 2022 chị có mua lại của anh Phạm Trường A 02 lô đất thuộc dự án A, T, Bắc Ninh, cụ thể lô số 16-CL9 với giá 800 triệu đồng và lô số 06-CL7 với giá 770 triệu đồng. Chị đã trả anh Phạm Trường A tổng số tiền là 1.570.000.000 đồng bằng tiền mặt và chuyển khoản (không nhớ cụ thể chuyển khoản bao nhiêu, đưa tiền mặt bao nhiêu).
Đối với 24 lô đất, anh G khai đã bán lại cho 05 người với tổng số 17 lô đất và thu tổng số tiền: 17.760.000.000 đồng, cụ thể :
Tổng số tiền anh G đã bán chênh so với giá ghi trong hợp đồng là: 4.960.000.000 đồng. Sau khi anh G bán lại 17 lô đất cho 05 người kể trên thì anh G đã bàn giao lại 17 phong bì dán kín, còn lại 07 phong bì với các lô số: 36, 37, 38, 39, 40 - CL6 và 20, 21 - CL9 là của anh G giữ.
- Chị Đỗ Thị T7 khai:
Khoảng tháng 4 năm 2022, anh Phạm Khắc G có nói với chị là anh G có đất ở dự án A vì anh G đã mua của người khác, giấy tờ hợp đồng đã được đóng niêm phong vào phong bì thư. Sau đó chị và anh G ký với nhau 03 biên bản cam kết để mua 04 lô đất, gồm số 15-CL9; 09, 10 - CL6 và 19-CL9. Tổng số tiền chị đã nộp cho anh G là 4.810.000.000 đồng, anh G có đưa cho chị 04 phong bì thư được niêm phong, dán kín và nói bên trong là Hợp đồng mua bán các lô đất trên, không được tự ý bóc ra. Sau khi làm việc với Cơ quan điều tra thì chị mới biết bên trong phong bì là Biên bản tự nguyện góp vốn được ký kết giữa anh Phạm Khắc G và Nguyễn Đức H. Chị yêu cầu anh G phải trả lại số tiền 4.810.000.000 đồng.
-Anh Nguyễn Khắc H6 khai:
Khoảng cuối tháng 4 năm 2022, anh Phạm Khắc G có nói với anh là anh G có đất ở dự án A vì anh G đã mua của người khác, giấy tờ hợp đồng đã được đóng niêm phong vào phong bì thư. Sau đó anh đồng ý mua của anh G 01 lô đất, số 06-CL3. Anh đã đưa cho anh G 750 triệu đồng, gồm 100 triệu đồng bằng tiền mặt và 650 triệu đồng bằng chuyển khoản. anh G có đưa cho anh 01 phong bì thư được niêm phong, dán kín và nói không được tự ý bóc ra. Sau anh biết giấy tờ trong phong bì là do anh G ký với Nguyễn Đức H, sinh năm 1995 ở N, T, T, Bắc Ninh. Anh yêu cầu anh G phải trả lại số tiền 750 triệu đồng.
Chị Lê Thị M khai:
Khoảng cuối tháng 4 năm 2022, anh Phạm Khắc G có nói với chị là anh G có đất ở dự án A vì anh G đã mua của người khác, giấy tờ hợp đồng đã được đóng niêm phong vào phong bì thư. Sau đó chị đồng ý mua của anh G 02 lô đất, tương ứng với 02 phong bì thư dán kín, bên ngoài ghi lô số 04; 05-CL3. Chị và anh G ký với nhau 02 bản cam kết để mua 02 lô đất trên. Chị đã nộp cho anh G 02 tỷ đồng bằng cả tiền mặt và chuyển khoản (không nhớ cụ thể chuyển khoản bao nhiêu và đưa tiền mặt bao nhiêu). Anh G có đưa cho chị 02 phong bì thư được niêm phong, dán kín bên ngoài ghi số lô ký hiệu như trên và nói không được tự ý bóc ra. Sau khi làm việc với Cơ quan điều tra thì chị mới biết 02 phong bì thư bên trong là Biên bản tự nguyện góp vốn được ký kết giữa anh Phạm Khắc G với Nguyễn Đức H, chị không biết H là ai. Chị yêu cầu anh G phải trả lại số tiền 02 tỷ đồng.
- Chị Nguyễn Thị X2 khai:
Khoảng đầu tháng 5 năm 2022, anh Phạm Khắc G có nói với chị là anh G có đất ở dự án A vì anh G đã mua của người khác, giấy tờ hợp đồng đã được đóng niêm phong vào phong bì thư. Sau đó chị đồng ý mua của anh G 01 lô đất, tương ứng với 01 phong bì thư dán kín, bên ngoài ghi lô 03-CL3;. Chị đã đưa cho anh G 950 triệu đồng bằng cả tiền mặt và chuyển khoản (không nhớ cụ thể chuyển khoản bao nhiêu và đưa tiền mặt bao nhiêu). Anh G có đưa cho chị 01 phong bì thư được niêm phong, dán kín bên ngoài ghi số lô ký hiệu như trên và nói không được tự ý bóc ra. Sau này chị mới biết bên trong phong bì thư là Biên bản tự nguyện góp vốn được ký kết giữa anh Phạm Khắc G với Nguyễn Đức H, chị không biết H là ai. Chị yêu cầu anh G phải trả lại số tiền 950 triệu đồng.
- Chị Nguyễn Thị A1 khai:
Khoảng tháng 4 năm 2022, anh Phạm Khắc G có nói với chị là anh G có đất ở dự án A vì anh G đã mua của người khác, giấy tờ hợp đồng đã được đóng niêm phong vào phong bì thư. Sau đó chị đồng ý mua của anh G 09 lô đất, tương ứng với 09 phong bì thư dán kín, chị và anh G ký với nhau 06 bản cam kết với nội dung chị mua của anh G các lô đất số 06, 07 - CL2; 02 - CL3; 48, 57, 58, 59 - CL6 và 02, 03 - CL9. Tổng số tiền chị đã nộp cho anh G là 9.250.000.000 đồng bằng tiền mặt và chuyển khoản (cụ thể chuyển khoản, bao nhiêu tiền mặt chị không nhớ), anh G có giao cho chị 0 phong bì thư được niêm phong, dán kín bên ngoài ghi số lô ký hiệu như trên, anh G nói trong phong bì là Hợp đồng mua bán các lô đất trên và nói không được tự ý bóc ra. Sau khi làm việc với Cơ quan điều tra thì chị mới biết toàn bộ 09 phong bì thư bên trong là Biên bản tự nguyện góp vốn được ký kết giữa anh Phạm Khắc G với Nguyễn Đức H, chị không biết H là ai. Các lô đất này chị chưa bán lại cho ai. Chị yêu cầu anh G phải trả lại số tiền 9.250.000.000 đồng.
Chị T5 khai đã bán cho chị Nguyễn Thị S, ở Y, G, T, Bắc Ninh 02 lô đất, số 25-CL5, 21-CL7 với giá là 1.215.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm mười năm triệu đồng), giao nhận tiền bằng tiền mặt và chuyển khoản.
Sau đó, chị S có bán 05 lô đất cho anh Nguyễn Anh C1, sinh năm 1982, nơi thường trú: T, T, T, Bắc Ninh gồm: lô số 27- CL5; 22; 23-CL7 và bán hộ chị Vương Thương T5, sinh năm: 1984 ở N, A, T, Bắc Ninh 02 lô đất số 25-CL5, 21-CL7. Chị S đã bán 05 lô đất trên cho anh C1, trong biên bản tự nguyện góp vốn giữa chị S và anh C1 ký với nhau số tiền là 3.848.000.000 đồng, thực tế chị thu của anh C1 số tiền 3.750.000.000 đồng bằng chuyển khoản và tiền mặt, (chị S khai số tiền chênh lệch 98 triệu đồng là do anh C1 bảo chị viết chênh lên vì chị biết anh C1 mua chung với người khác). Chị S đã trả lại cho chị T5 tiền bán 02 lô đất cho anh C1 là 1.215.000.000 đồng (bằng chuyển khoản và tiền mặt), số tiền còn lại 2.535.000.000 đồng là của chị S. Trước đó chị S mua của H lô số 27-CL5 và 22, 23-CL7 với tổng số tiền là 1.508.000.000 đồng. Chị S bán 05 lô đất kể trên cho anh C1 được hưởng số tiền chênh lệch là: 1.027.000.000 đồng. Số tiền 3.750.000.000 đồng thu của anh C1 thì chị S đã trả anh C1 150 triệu đồng. Các lô số 24-CL5 và Lô số: 24, 25-CL7, chị S chưa bán cho ai.
- Anh Nguyễn Anh C1 và anh Đàm Phương T9 khai:
Khoảng cuối tháng 2/2022, hai anh thoả thuận mua chung 05 lô đất của chị S và thoả thuận để anh C1 ký 02 biên bản thoả thuận góp vốn với chị S để mua 05 lô đất tại dự án giãn dân xã A, T, Bắc Ninh của chị S, gồm lô số 25; 27-CL5 cùng có diện tích 108m2, tổng số tiền 02 lô là 3.456.000.000 đồng và lô số 21, 22, 23 -CL7 cùng có diện tích 100m2, tổng số tiền 03 lô là 4.200.000.000 đồng. Anh C1 đã đưa cho chị S số tiền là 3.848.000.000 đồng bằng tiền mặt và chuyển khoản (anh C1 không nhớ cụ thể chuyển khoản bao nhiêu và đưa tiền mặt bao nhiêu).
Sau đó anh C1 và anh T9 bán lại cho chị Ngô Thị T10, sinh năm 1988 ở N, G, T, Bắc Ninh 03 lô đất, gồm lô số 21, 21- CL7, lô số 27- CL5 với tổng số tiền là 3.695.000.000 đồng . Anh C1 nhận của chị T10 1.395.000.000 đồng, anh T9 nhận của chị T10 2.300.000.000 đồng. Sau khi biết là không có đất thì anh C1 và anh T9 đã trả chị T10 500.000.000 đồng, chị S đã trả cho anh 150.000.000 đồng. Anh C1 và anh T9 cam kết trả chị T10 số tiền còn lại là 3.195.000.000 đồng.
+ Chị Ngô Thị T10 khai:
Khoảng đầu tháng 3 năm 2022, anh Nguyễn Anh C1 nói với chị là anh C1 quen biết với anh Đàm Phương T9 và anh T9 có đất tai dự án giãn dân A, T, Bắc Ninh muốn bán, chị và anh C1 thoả thuận với nhau về giá cả rồi chị đồng ý mua và đặt cọc cho anh C1 490 triệu đồng vào ngày 10/3/2023. Sau đó anh C1 và anh T9 đến gặp chị, sau khi thoả thuận, chị đồng ý mua của anh T9 03 lô, ký hiệu 21; 22-CL7; 37-CL5. Tổng số tiền chị T10 đã trả cho anh C1 và anh T9 để mua 03 lô đất nêu trên là 3.695.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản của chị T10, số 43210001242089 Ngân hàng TMCP Đ4 (B1) mang tên Ngô Thị T10 đến tài khoản của anh C1, số 0988112267 số tiền là 1.395.000.000 đồng và chuyển đến tài khoản của anh T9 số 0351001089438 số tiền là 2.300.000.000 đồng. Đến nay anh C1 và anh T9 đã trả chi 500 triệu đồng. Chị yêu cầu anh C1 và anh T9 phải trả số tiền còn lại là 3.195.000.000 đồng.
Anh V khai: sau đó anh V đã bán 01 lô đất, số 17- CL9 cho chị Nguyễn Thị T6, sinh năm 1988 ở khu phố T, phường G, thị xã T, Bắc Ninh với giá 850.000.000 đồng, trước đó anh V mua của anh H với giá 750 triệu đồng. Chị T6 đã chuyển khoản cho anh V số tiền 850.000.000 đồng, còn lại 02 lô đất anh V chưa bán cho ai. Nay anh V yêu cầu H và chị T phải trả cho anh số tiền 2.150.000.000 đồng
- Chị Nguyễn Thị T6, khai:
Chị có mua lại của anh Phạm Trường A 02 lô đất thuộc dự án A, T, Bắc Ninh, cụ thể lô số 16-CL9 với giá 800 triệu đồng và lô số 06-CL7 với giá 770 triệu đồng. Chị đã trả cho anh Phạm Trường A tổng số tiền là 1.570.000.000 đồng bằng tiền mặt và chuyển khoản. Ngoài ra còn mua của anh Phạm Đình V lô đất số 17-CL9 cũng ở dự án A, T với giá 850 triệu đồng, chị đã chuyển khoản cho anh V số tiền 850 triệu đồng. Sau đó chị T6 bán lô số 06-CL7 cho chị Nguyễn Thị T11 ở G, T, Bắc Ninh với giá 850 triệu đồng, được hưởng chênh lệch là 80 triệu đồng. Còn lô số 16; 17-CL9 chị T6 bán lại cho anh Nguyễn Xuân H9 ở Đ, phường H, T, Bắc Ninh với giá 1.900.000.000 đồng, chị lãi 330 triệu đồng. Chị T6 đồng ý trả lại chị Nguyễn Thị T11 và anh Nguyễn Xuân H9 số tiền lãi từ việc bán 3 lô đất trên.
+ Chị Nguyễn Thị T11 khai:
Chị có quan hệ họ hàng với chị Nguyễn Thị T6, khoảng tháng 3/2022, chị có mua của chị T6 lô đất số 06-CL7. Chị đã đưa cho chị T6 số tiền là 850 triệu đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng của chị đến tài khoản ngân hàng của chị T6. Về sau chị biết lô đất này chị T6 mua của anh Phạm Trường A ở T, G, Thuận T12 và anh Trường A mua của Nguyễn Đức H ở T, T, Bắc Ninh. Lô đất này chị T11 chưa bán lại cho ai, chị T11 yêu cầu chị T6 phải trả lại chị 850 triệu đồng.
+Anh Nguyễn Xuân H9 khai:
Cuối tháng 4 năm 2022 anh có mua của chị Nguyễn Thị T6 02 lô đất thuộc dự án A, T, Bắc Ninh, lô số 16-CL9 và lô số 17-CL9 với giá 960 triệu đồng/01 lô, tổng là 01 tỷ 900 triệu đồng. Vợ chồng anh đã đưa cho chị T6 số tiền là 01 tỷ 900 triệu đồng bằng hình thức chuyển khoản.
Ngoài ra vợ chồng anh còn mua của anh Nguyễn Anh V1, sinh năm 1987 ở Y, G, Thuận Thành B lô đất số 9-LK1 diện tích 100m2 tại dự án N, T, Bắc Ninh với giá 01 tỷ đồng. Vợ chồng anh đã chuyển khoản cho anh V1 số tiền 990 triệu đồng. Nay anh H9 yêu cầu chị T6 và anh V1 phải trả lại anh số tiền nêu trên.
+ Anh Nguyễn Anh V1 khai:
Khoảng đầu tháng 3 năm 2022 anh mua của chị Ngô Thị H10, sinh năm 1988 ở B, V, TP B tỉnh Bắc Ninh 01 thửa đất tại dự án khu đô thị N, T, Bắc Ninh, là lô số 9-LK1, diện tích 100m2 với giá 800 triệu đồng, chị H10 có giao cho anh 01 phong bì thư dán kín và nói bên trong là hồ sơ gốc, bên ngoài ghi lô số 9-LK1 có chữ ký tại các mép dán phong bì. Đến ngày 22/3/2022, anh bán lại lô đất trên cho anh Nguyễn Xuân H9, vợ là Nguyễn Thị H11 ở Đ, phường H, T, Bắc Ninh với giá 01 tỷ đồng, anh bớt cho anh H9 10 triệu đồng, số tiền thanh toán là 990 triệu đồng, anh được lãi 190 triệu đồng, anh đưa cho chị Ngô Thị H12, sinh năm 1988 ở N, T, T, Bắc Ninh 50 triệu đồng (do chị H12 giới thiệu bán) anh còn được hưởng lợi 140 triệu đồng. Anh và chị Nguyễn Thị H11 có ký với nhau 01 biên bản thoả thuận góp vốn thể hiện việc mua bán lô đất trên và giao cho chị Nguyễn Thị H11.
Như vậy Tổng số tiền Nguyễn Đức H đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn ký Biên bản tự nguyện góp vốn đối với 16 người trên là: 93.825.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền này H đã tiêu sài cá nhân và tham gia đánh bạc trên trang mạng 92 lottery.bet hết, không còn khả năng trả tiền cho những người trên.
Quá trình điều tra, giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh các dự án đất ở tại huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
Tại Văn bản số 30/CV-KHHT, ngày 28/02/2023 của Phòng kinh tế và hạ tầng - Ủy ban nhân dân huyện T, trả lời Cơ quan CSĐT Công an huyện T, nêu: “Tại xã N có dự án: Khu nhà ở đấu giá quyền sử dụng đất tại xã N; Dự án này do UBND xã N tổ chức lập Đồ án quy hoạch chi tiết. Tại xã A có dự án: Khu nhà ở đấu giá quyền sử dụng đất tại xã A; Dự án này do UBND xã A tổ chức lập Đồ án quy hoạch chi tiết. Tại T dự án: Khu nhà ở đấu giá quyền sử dụng đất tại thị trấn H (Khu F+7) và (Khu 8+9); Dự án này do Ban quản lý các dự án xây dựng huyện tổ chức lập Đồ án quy hoạch chi tiết. Hiện các dự án nêu trên chưa tổ chức đấu giá hoặc đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư cho nên chưa có chủ đầu tư. Vì vậy Nguyễn Đức H không phải là chủ đầu tư hoặc thành viên các dự án trên”
Tại Văn bản số 59/CV-BQLDA, ngày 27/02/2023 của Ban quản lý các dự án XD - Ủy ban nhân dân huyện T, trả lời Cơ quan CSĐT Công an huyện T, nêu: “Ban quản lý các dự án xây dựng đến thời điểm hiện tại không được giao làm Chủ đầu tư (hoặc quản lý dự án) dự án đất nào có tên trùng với tên các dự án trên. Các dự án được UBND huyện giao cho Ban quản lý các dự án xây dựng thực hiện đến nay chưa có dự án nào được phép đấu giá QSDĐ theo quy định của pháp luật. Ban quản lý dự án không có thông tin gì về Nguyễn Đức H (sinh năm 1995, HKTT: N, T, T, Bắc Ninh), không biết H là ai và cũng chưa từng gặp gỡ, giao kết hoặc phối hợp làm việc.
Ngoài hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng hình thức góp vốn để mua đất của những người nêu trên, Nguyễn Đức H còn thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác bằng hình thức nhận tiền để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:
Nguyễn Đức H không có chức năng, không làm công việc gì liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng không hiểu biết gì về quy trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vì mục đích chiếm đoạt tiền của người khác nên trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 2021 đến tháng 02 năm 2022, H đã đưa ra thông tin là H có khả năng giúp mọi người làm được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mục đích để mọi người tin tưởng và đưa tiền cho H, từ đó H chiếm đoạt tiền của họ. Một số người nghĩ H có các mối quan hệ, có thể làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhanh, đã đưa tiền cho H để nhờ H làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi nhận được tiền, H đã chiếm đoạt, sử dụng vào mục đích cá nhân. Cụ thể H đã lừa đảo chiếm đoạt tiền của 05 người, gồm:
- Khoảng tháng 12 năm 2021, anh Nguyễn Hữu P, sinh năm:1984 ở Y, A, T, Bắc Ninh nhờ Nguyễn Đức H làm 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đất ở của nhà anh P. H nói với anh P sau khi nhận hồ sơ, tiền trong 03 tháng sẽ làm xong, chi phí là 152.000.000 đồng. Anh P đã giao hồ sơ đất và 152.000.000 đồng tiền mặt cho H (gồm: ngày 31/12/2021 giao 62.000.000 đồng, ngày 10/01/2022 giao 90.000.000 đồng), đến tháng 02/2022, thấy H chưa làm được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh P hỏi nhiều lần thì H trả anh 55.000.000 đồng. Số tiền còn lại H chiếm đoạt của anh P là 97.000.000 đồng.
- Khoảng tháng 9 năm 2021, bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1967 ở T, A, T, Bắc Ninh nhờ Nguyễn Đức H làm 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đất ở của nhà bà O. H nói với bà O sau khi nhận hồ sơ, tiền trong 03 tháng sẽ làm xong, chi phí là 200.000.000 đồng. Bà O đã giao hồ sơ đất và 200.000.000 đồng tiền mặt cho H (gồm ngày 02/9/2021 giao 160.000.000 đồng, ngày 15/9/2021 giao 40.000.000 đồng). Số tiền này, H chiếm đoạt và chi tiêu cá nhân hết.
- Khoảng tháng 11/2021, bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1961 ở T, A, T, Bắc Ninh nhờ Nguyễn Đức H làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đất ở của nhà bà N2. H nói với bà N2 sau khi nhận hồ sơ, tiền trong 03 tháng sẽ làm xong, chi phí là 85.000.000 đồng. Ngày 05/11/2021, bà N2 đã giao hồ sơ đất và 85.000.000 đồng tiền mặt cho H. H đã chiếm đoạt 85.000.000 đồng của bà N2
- Khoảng tháng 11 năm 2021, bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1957 ở T, A, T, Bắc Ninh nhờ Nguyễn Đức H làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đất ở của nhà bà L3, H cũng hứa với bà L3 trong 03 tháng sẽ làm xong, chi phí là 85.000.000 đồng. Ngày 05/11/2021, H đã nhận 85.000.000 đồng tiền mặt và hồ sơ đất của bà L3. Sau khi nhận tiền, H đã chiếm đoạt và chi tiêu cá nhân hết.
- Khoảng tháng 02 năm 2022, bà Vương Thị N3, sinh năm 1969 ở khu phố Đ, A, T, Bắc Ninh nhờ Nguyễn Đức H làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đất ở của nhà bà N3, H nói với bà N3 trong 03 tháng sẽ làm xong, chi phí là 100.000.000 đồng. Ngày 18/02/2022, chị N3 đã giao hồ sơ đất và 100.000.000 đồng tiền mặt cho H và H đã chiếm đoạt số tiền này của bà N3.
Tổng số tiền H đã chiếm đoạt bằng hình thức lừa đảo làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 05 người nêu trên là: 567.000.000 đồng. Sau khi nhận số tiền này của 05 người kể trên H không làm gì liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho họ mà chiếm đoạt, sử dụng hết vào việc chi tiêu cá nhân.
Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Đức H đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn ký Biên bản tự nguyện góp vốn và nhận tiền để làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 21 người là: 93.825.000.000 đồng + 567.000.000 đồng = 94.392.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền này H đã sử dụng để tiêu sài cá nhân, trả nợ và tham gia đánh bạc trên trang mạng 92 lottery.bet hết, không có khả năng trả lại tiền cho những người trên.
Quá trình điều tra, Nguyễn Đức H đã thành khẩn khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. H khẳng định các thông tin mà H đã đưa ra đối với người có nhu cầu mua đất và làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều là thông tin giả, không có thật, bản thân H không có bất kỳ liên quan gì đến các dự án đất ở, không có bất kỳ lô đất nào để bán. Các biên bản tự nguyện góp vốn là do một mình H tự soạn thảo, mục đích làm các biên bản này là để mọi người tin H có các lô đất tại các dự án từ đó H thực hiện việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người có nhu cầu mua đất. H cũng không quen biết ai có trách nhiệm trong việc làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có chức năng, nhiệm vụ gì trong việc làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi thực hiện tội phạm, H không trao đổi, bàn bạc với ai. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được của những người bị hại, H không cho ai, không mua sắm gì mà sử dụng đánh bạc trên mạng và chi tiêu cá nhân hết.
Về hành vi đánh bạc bằng hình thức cá cược trên trang mạng 92lottery.bet, Cơ quan điều tra đã có Công văn đề nghị chuyển thông tin tài liệu đến Phòng An ninh mạng và phòng chống tội phạm công nghệ cao để xác minh, xử lý sau.
Cơ quan điều tra đã xác minh và thu thập 03 tài khoản ngân hàng do H đang quản lý, sử dụng, cụ thể:
- Số tài khoản 2607215039275 mở ngày 21/4/2023 tại ngân hàng A2 chi nhánh huyện T, số dư cuối còn số tiền là: 42.419 đồng.
- Số tài khoản 0972538921 mở ngày 05/4/2022 tại ngân hàng V3 chi nhánh K3, số dư cuối còn số tiền là: 188.280 đồng.
- Số tài khoản 307704070000480 mở ngày 13/9/2021 tại ngân hàng H16 - Phòng G2, số dư cuối còn lại số tiền: 51.183 đồng.
Cơ quan điều tra cũng đã xác minh các tài khoản nhận tiền từ các số tài khoản của H, tuy nhiên các chủ tài khoản hiện tại đều không sử dụng, quản lý số tài khoản đó.
Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (một) Điện thoại di động IPhone XSMax, số IMEI: 35729209366671 đã qua sử dụng của Nguyễn Đức H (do H giao nộp khi đầu thú)
Về dân sự của vụ án: Những người bị hại yêu cầu bị can Nguyễn Đức H phải trả lại số tiền mà H đã chiếm đoạt nêu trên. Hiện Nguyễn Đức H chưa bồi thường, khắc phục hậu quả cho người bị hại nào.
Với nội dung trên, Cáo trạng số 181/CT-VKS-P2 ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Nguyễn Đức H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 29/3/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết định:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 39 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/4/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải bồi thường cho 21 người bị hại, tổng số tiền là 94.392.000.000 đồng. Cụ thể:
- - Trả cho anh Đàm Công H3 và anh Nguyễn Quang T1: 41.060.000.000 đồng;
- - Trả cho chị Nguyễn Thị T 1.000.000.000 đồng;
- - Trả cho chị Lê Thị X1 và anh Nguyễn Bá Q 10.080.000.000 đồng;
- - Trả cho anh Phạm Trường A 6.600.000.000 đồng;
- - Trả cho anh Phạm Khắc G 18.630.000.000 đồng;
- - Trả cho chị Nguyễn Thị H7 925.000.000 đồng;
- - Trả cho anh Nguyễn Văn L2 1.760.000.000 đồng;
- - Trả cho chị Vương Thương T5 3.500.000.000 đồng;
- - Trả cho chị Nguyễn Thị S 3.000.000.000 đồng;
- - Trả cho anh Nguyễn Văn L 700.000.000 đồng;
- - Trả cho anh Phạm Đình V 2.150.000.000 đồng;
- - Trả cho chị Ung Thị H13 920.000.000 đồng;
- - Trả cho anh Vương Văn T4 1.400.000.000 đồng;
- - Trả cho chị Ngô Thị H12 1.000.000.000 đồng;
- - Trả cho chị Ngô Thị H10 600.000.000 đồng[;
- - Trả cho ông Phạm Tiến T13 500.000.000 đồng;
- - Trả cho anh Nguyễn Hữu P 97.000.000 đồng;
- - Trả cho chị Nguyễn Thị O 200.000.000 đồng;
- - Trả cho bà Nguyễn Thị N2 85.000.000 đồng;
- - Trả cho bà Nguyễn Thị L3 85.000.000 đồng;
- - Trả cho chị Vương Thị N3 100.000.000 đồng.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax có imei: 357292093666719 của bị cáo H14 đã qua sử dụng;
- Truy thu của chị Nguyễn Thị T 272.500.000 đồng để khắc phục hậu quả cho bị cáo H.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11 và 15/4/2024, các bị hại là anh Đàm Công H3, chị Lê Thị X1, anh Phạm Trường A, anh Phạm Khắc G, chị Nguyễn Thị S và anh Phạm Đình V kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo, làm rõ số tiền H chiếm đoạt sử dụng vào việc gì, xem xét vai trò đồng phạm của chị Lê Thị Thắm H15 (vợ của bị cáo H), người cung cấp bản vẽ quy hoạch cho bị cáo H, ông Nguyễn Xuân Đ3- Chủ tịch UBND huyện T.
Ngày 12/4/2024, chị Nguyễn Thị T kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm không truy thu của chị số tiền 272.500.000 đồng.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị hại là các anh Đàm Công H3, chị Lê Thị X1, anh Phạm Trường A, anh Phạm Khắc G và anh Phạm Đình V rút kháng cáo về nội dung đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo H và giữ nguyên các nội dung kháng cáo khác, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại vì lý do bỏ lọt tội phạm và Toà án cấp sơ thẩm chưa làm rõ bị cáo sử dụng số tiền chiếm đoạt của các bị hại như thế nào?
Bị hại chị Nguyễn Thị Tuyết g nguyên nội dung kháng cáo và cung cấp một biên lai chuyển tiền từ tài khoản của chị T cho tài khoản của bị cáo Nguyễn Đức H số tiền 350.000.000 đồng và cho rằng chị T đã chuyển trả bị cáo số tiền 272.500.000 đồng, nên Toà án cấp sơ thẩm tuyên buộc chị T phải nộp lại số tiền 272.500.000 đồng là không đúng.
Chị Nguyễn Thị S vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên không có lời trình bày tại phiên toà phúc thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên toà phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm:
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị hại là các anh Đàm Công H3, chị Lê Thị X1, anh Phạm Trường A, anh Phạm Khắc G và anh Phạm Đình V về việc tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đức H.
- Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị S về việc đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo H.
- Bác các nội dung kháng cáo khác của anh Đàm Công H3, chị Lê Thị X1, anh Phạm Trường A, anh Phạm Khắc G và anh Phạm Đình V, chị Nguyễn Thị T và giữ nguyên Quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm đã tuyên về các nội dung có kháng cáo.
Bị cáo và Luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên toà phúc thẩm nhất trí với ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát.
Luật sư bào chữa cho bị hại chị Nguyễn Thị T đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm tuyên không buộc chị T phải bị truy thu số tiền 272.500.000 đồng vì chị T đã cung cấp Biên lai thể hiện chị T đã chuyển khoản cho bị cáo 350.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ngày 29/3/2024 Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án. Ngày 11, 12 và 15/4/2024, các ông, bà Đàm Công H3, Nguyễn Thị T, Phạm Trường A, Phạm Đình V, Phạm Khắc G, Lê Thị X1, Nguyễn Thị S kháng cáo là trong thời hạn quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh: tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đức H thừa nhận hành vi như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: do cần tiền để đánh bạc trên mạng và chi tiêu cá nhân, bị cáo đã tự đặt tên cho bản vẽ các dự án đất tại: Dự án Khu đô thị A, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; dự án khu đô thị X, T, Bắc Ninh; dự án khu đô thị C và dự án khu đô thị T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó, bị cáo H đưa ra các thông tin gian dối, không có thật với mọi người là có các mối quan hệ với các lãnh đạo và có các xuất đất ngoại giao tại các dự án trên đang có nhu cầu bán, nếu người nào muốn mua thì phải tham gia từ đầu, giá sẽ thấp hơn giá thị trường và chỉ phải đóng theo từng giai đoạn. Tuy nhiên, thực tế bị cáo không biết, không có vai trò gì về các dự án trên và cũng không có lô đất nào để bán. Trong khoảng thời gian từ cuối năm 2021 đến tháng 10 năm 2022, bị cáo đã lừa đảo 16 người ký Biên bản thoả thuận góp vốn và chiếm đoạt được tổng số tiền của 16 người là 93.825.000.000 đồng đến nay bị cáo chưa khắc phục được đồng nào cho các bị hại. Ngoài ra, bị cáo còn lừa 5 người khác để làm sổ đỏ với tổng số tiền là 567 triệu đồng. Số tiền lừa đảo được bị cáo khai đã chi tiêu cá nhân và đánh bạc thua hết. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự (là khung hình phạt cao nhất của tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”) là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo nhận tội và xác định Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo là đúng, không oan, bản thân bị cáo cũng không kháng cáo.
[3] Về kháng cáo của các bị hại là Đàm Công H3, Phạm Đình V, Phạm Khắc G, Lê Thị X1, Phạm Trường A, Nguyễn Thị S đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đức H, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên toà phúc thẩm, các bị hại Đàm Công H3, Phạm Đình V, Phạm Khắc G, Lê Thị X1, Phạm Trường A rút kháng cáo về nội dung đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo H. Xét thấy việc các bị hại rút đơn kháng cáo là tự nguyện, Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo này của các bị hại Đàm Công H3, Phạm Đình V, Phạm Khắc G, Lê Thị X1, Phạm Trường A theo quy định tại Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[4] Trong vụ án này thì bị hại Nguyễn Thị S cũng có kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đức H nhưng vắng mặt tại phiên toà phúc thẩm nên không có ý kiến tại phiên toà. Hội đồng xét xử xét kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị S thấy rằng: Khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H “tù chung thân”, đã là mức hình phạt cao nhất đối với tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị S về nội dung đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đức H.
[5] Về kháng cáo của ông Đàm Công H3, Phạm Đình V, Phạm Khắc G, Lê Thị X1, Nguyễn Thị S về việc đề nghị xem xét vai trò đồng phạm đối với chị Lê Thị Thắm H15 (vợ của bị cáo H) và người cung cấp bản vẽ quy hoạch cho H, xem xét vai trò đồng phạm của ông Nguyễn Xuân Đ3- Chủ tịch UBND huyện T, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại cơ quan điều tra, phiên toà sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai việc bị cáo lừa đảo các bị hại, bị cáo không bàn bạc với ai, không bàn bạc với vợ là chị Lê Thị Thắm H15, chị H15 không biết bị cáo lừa đảo và bị cáo không mang tiền về nhà. Đối với Bản vẽ quy hoạch bị cáo khai không nhớ ai đã cung cấp cho bị cáo vì bị cáo làm nghề môi giới bất động sản. Tài liệu có trong hồ sơ không thể hiện ông Nguyễn Xuân Đ3- Chủ tịch UBND huyện T có liên quan tới hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên toà phúc thẩm, các bị hại trình bày không có tài liệu, chứng cứ chứng minh chị H15 và ông Đ3 hoặc bất kỳ ai khác có liên quan tới vụ án và không biết ai là người đã cung cấp bản vẽ cho bị cáo H. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị hại về việc huỷ án sơ thẩm để điều tra lại, xem xét vai trò đồng phạm của chị Lê Thị Thắm H15 và ông Nguyễn Xuân Đ3.
[6] Về kháng cáo của các bị hại Đàm Công H3, Phạm Trường A, Phạm Đình V, Phạm Khắc G, Lê Thị X1, Nguyễn Thị S về việc làm rõ số tiền bị cáo chiếm đoạt của các bị hại sử dụng vào việc gì để thu hồi, trả lại cho các bị hại: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H đều khai tiền chiếm đoạt của các bị hại, bị cáo dùng để đánh bạc và tiêu sài cá nhân, không mang về nhà. Chị H15 trình bày bị cáo không những không mang tiền về nhà mà còn lấy tiền ở nhà mang đi. Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án không chứng minh được là bị cáo sử dụng tiền chiếm đoạt vào những việc khác (ngoài đánh bạc và tiêu sài cá nhân). Riêng số tiền bị cáo dùng để đánh bạc là 91.650.000.000 đồng (nạp quan các tài khoản các Ngân hàng E 12 tỷ đồng; H18 10 tỷ đồng; B1 11 tỷ đồng; M1 21 tỷ đồng; V5 20 tỷ 650 triệu đồng; V3 17 tỷ đồng) (BL 1283). Tại phiên toà phúc thẩm, các bị hại trình bày không có tài liệu chứng minh số tiền bị cáo chiếm đoạt đã sử dụng vào việc gì. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị cáo phải trả lại các bị hại số tiền chiếm đoạt là có căn cứ, đúng quy định.
[7] Đối với kháng cáo của chị Nguyễn Thị T về việc đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét không truy thu của chị T số tiền 272.500.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo và chị T đều khai nhận là bị cáo có nhờ chị T giới thiệu người khác mua đất của bị cáo, nhận tiền đặt cọc của một số người nhờ chuyển cho bị cáo, chị T không biết bị cáo lừa đảo nhưng mỗi lần bán đất bị cáo có trích lại cho chị T từ 50 đến 100 triệu đồng/1 lô, tổng số là 272.500.000 đồng. Chị T trình bày đã chuyển lại số tiền trên cho bị cáo H và tại phiên toà phúc thẩm, chị T xuất trình một Biên lai thể hiện đã chuyển khoản cho bị cáo H số tiền 350.000.000 đồng, nhưng bị cáo H không thừa nhận đó là tiền hoa hồng chị T chuyển trả lại cho bị cáo và khẳng định bị cáo chưa nhận lại số tiền hoa hồng mà bị cáo đã trả công cho chị T, mặt khác việc này mâu thuẫn với lời khai của bị cáo và chị T tại cơ quan điều tra, phiên toà sơ thẩm và ngay cả tại phiên toà phúc thẩm, nên Biên lai chuyển khoản mà chị T cung cấp chưa đủ căn cứ chứng minh đó là số tiền hoa hồng mà bị cáo đã trích trả công cho chị T. Mặt khác, cả bị cáo và chị T đều thừa nhận có việc chị T được bị cáo trích hoa hồng số tiền 272.500.000 đồng, nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên truy thu của chị T 272.500.000 đồng là có căn cứ.
[8] Về án phí: Các bị hại Đàm Công H3, Phạm Khắc G, Lê Thị X1, Phạm Trường A, Phạm Đình V, Nguyễn Thị S không thuộc trường hợp phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[9] Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 348, khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị hại Đàm Công H3, Phạm Trường A, Phạm Đình V, Phạm Khắc G, Lê Thị X1 về nội dung đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đức H.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị S về việc tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đức H; Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị T về phần quyết định truy thu đối với chị T số tiền 272.500.000 đồng; Không chấp nhận những nội dung kháng cáo khác của các bị hại Đàm Công H3, Phạm Trường A, Phạm Đình V, Phạm Khắc G, Lê Thị X1, Nguyễn Thị S;
- Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh về phần quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đức H, phần quyết định truy thu của chị Nguyễn Thị T số tiền 272.500.000 đồng; và giữ nguyên các nội dung khác mà Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS-ST đã tuyên liên quan đến kháng cáo của các bị hại Đàm Công H3, Phạm Trường A, Phạm Đình V, Phạm Khắc G, Lê Thị X1 và Nguyễn Thị S.
- Về án phí: các bị hại Đàm Công H3, Phạm Trường A, Phạm Đình V, Phạm Khắc G, Lê Thị X1, Nguyễn Thị S không thuộc trường hợp phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh theo Biên lai số 0000138 ngày 12/4/2024.
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thế Lệ |
Trần Thị Quỳnh |
|
Nguyễn Trọng Đoàn |
|
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Quỳnh |
Bản án số 719/2024/HS-PT ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (phúc thẩm hình sự)
- Số bản án: 719/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Phúc thẩm Hình sự)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức H phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
