Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 719/2024/DS-PT

Ngày: 20-8-2024

V/v: tranh chấp hợp đồng

vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy

Các Thẩm phán:

  • 1/ Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền
  • 2/ Ông Uông Văn Tuấn

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bạch Ngọc Hiếu - Kiểm Sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 472/2024/DS-PT ngày 10 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 222/2024/DS-ST ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3697/2024/QĐ-PT ngày 01tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10974/2024/QDD-PT ngày 25/7/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Phi Y, sinh năm 1955. Địa chỉ: Số H, đường N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Anh T, sinh năm: 1955 (theo Giấy ủy quyền số công chứng: 006803, quyển số: 07 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/7/2020 do Văn phòng C lập). Địa chỉ: Số A, đường N, ấp M, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Bị đơn: Ông Bùi Thế H, sinh năm 1953. Địa chỉ: Số G, đường H, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/6/2020 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Phi Y và người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Anh T trình bày:

Ngày 12/9/2017, ông Bùi Thế H có viết và ký trên tờ Giấy xác nhận, ông H nhận 500.000.000 đồng của bà Y và chịu trách nhiệm trả lãi nhưng đến nay ông H vẫn chưa trả cho bà Y. Số tiền 500.000.000 đồng nằm trong Khế ước nhận nợ số 1400LDS201700281 ngày 25/01/2017 với số tiền 4.500.000.000 đồng mà bà Y đã vay của Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh T1 (sau đây gọi tắt là E), số tiền 500.000.000 đồng trên ông H đã sử dụng như sau:

250.000.000 đồng ông H đã trả vào ngân hàng tài khoản gốc của khế ước 1400LDS201700281.

250.000.000 đồng ông H đã dùng để trả tiền mua hàng cho công ty ông H.

Thực chất 500.000.000 đồng nêu trên là của bà Y, vì nó nằm trong số tiền 08 tỷ đồng của E cho bà Y vay để mua căn nhà D D, Phường F, quận G, Tp. và ông H đã dùng tài sản riêng của mình là căn nhà 7 H, Phường A, quận P, Tp. để bảo lãnh trả nợ. Ông H hứa sẽ trả 250.000.000 đồng vào tài khoản gốc của Khế ước 1400LDS201700281 để có chính sách ưu đãi của Ngân hàng nhưng ông H không thực hiện nên bà Y phải trả thay cho ông H vào ngày 08/02/2017, ông H chỉ trả lãi một lần duy nhất cho E vào ngày 29/5/2017 với số tiền 26.600.000 đồng.

Nay bà Y yêu cầu ông H trả cho bà số tiền 500.000.000 đồng cùng với lãi suất của Khế ước nhận nợ 1400LDS201700281 mà bà Y đã trả thay cho ông H cho đến ngày 23/6/2022 tất toán khoản vay là 293.877.000 đồng. Tổng cộng bà Y yêu cầu ông H trả số tiền 767.277.000 đồng, bao gồm 500.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi là 267.277.000 đồng (293.877.000 đồng – 26.600.000 đồng). Ngoài ra bà không yêu cầu gì khác.

Bị đơn ông Bùi Thế H trình bày:

Ông H thừa nhận chữ ký và chữ viết trong Giấy xác nhận ngày 12/9/2017 là của ông nhưng do bà Y ép ký vì ông không đề phòng và tin tưởng, ông không phải là người lập Giấy xác nhận nên nội dung được nêu trên Giấy xác nhận là không đúng sự thật. Nội dung của chữ viết “Trong khế ước vay 4,5 tỷ, tôi có trách nhiệm thực hiện theo hợp đồng thế chấp về trả lãi hàng tháng, khi không đủ tiền thì cô Y trả thay sau này tính lại” là vì tình cảm trên mức tình bạn với bà Y nên ông H đã sử dụng tài sản riêng của mình là căn nhà 7 H, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh để bảo lãnh cho bà Y đủ điều kiện vay để mua căn nhà D D, Phường F, quận G, Tp . và ông H thừa nhận đã hỗ trợ bà Y trả lãi cho E một lần số tiền 26.600.000 đồng vào ngày 29/5/2017. Do đó đối với yêu cầu của bà Y, ông không đồng ý vì ông không vay tiền của bà Y.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 222/2024/DS-ST ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Lê Thị Phi Y:

Buộc ông Bùi Thế H phải trả cho bà Lê Thị Phi Y số tiền 767.277.000 (Bảy trăm sáu mươi bảy triệu hai trăm bảy mươi bảy ngàn) đồng, bao gồm 500.000.000 đồng tiền gốc và 267.277.000 đồng tiền lãi.

Ngoài ra còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 15/4/2024, ông Bùi Thế H có đơn kháng cáo vì cho rằng ông không thực sự vi phạm như bản án sơ thẩm đã tuyên.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Phía nguyên đơn đề nghị Tòa không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Nhận thấy yêu cầu kháng cáo của bị đơn đề nghị sửa án sơ thẩm vì cho rằng Tòa cấp sơ thẩm không khách quan, nhưng tại phiên tòa ngoài đơn yêu cầu kháng cáo thì phía bị đơn không có chứng cứ nào chứng minh ông H bị bà Y ép buộc ký và viết giấy xác nhận đã nhận số tiền 500.000.000 đồng và chịu trách nhiệm trả lãi nên không có cơ sở xem xét vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn còn trong thời hạn kháng cáo theo qui định tại Điều 273 và Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên kháng cáo hợp lệ và được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung kháng cáo: Bị đơn đề nghị Tòa phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án ông H cũng thừa nhận xuất phát từ mối quan hệ tình cảm trên mức bạn bè, khi bà Y có nhu cầu vay tiền, ông H đã dùng tài sản sản riêng của mình là căn nhà 7 H, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh để bảo lãnh cho khoản vay 4,5 tỷ đồng tại Ngân hàng E. Việc bà Y cho rằng trong số tiền này ông H có nhận vay 500.000.000 đồng và chịu trách nhiệm

trả gốc và lãi đối với khoản nợ này, phía ông H không thừa nhận và cho rằng việc ký giấy xác nhận ngày 12/9/2017 với nội dung đã nhận số tiền 500.000.000 đồng và chịu trách nhiệm trả lãi là do bị bà Y ép buộc nhưng không có chứng cứ gì chứng minh. Nhận thấy Bản án dân sự sơ thẩm số 222/2024/DS-ST ngày 03/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Y buộc ông H phải trả số nợ gốc và lãi còn thiếu là có căn cứ.

Xét thấy, sau khi xét xử sơ thẩm ông H đã nộp đơn kháng cáo với lý do cho rằng tòa cấp sơ thẩm xử không đúng vì ông H không vi phạm nhưng ông không cung cấp được bất kỳ tài liệu chứng cứ nào chứng mình cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.

[3] Về Án phí dân sự phúc thẩm: Ông H là người cao tuổi nên ông H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 38, Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Bùi Thế H.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 222/2024/DS-ST ngày 03/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
    1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Lê Thị Phi Y:

      Buộc ông Bùi Thế H phải trả cho bà Lê Thị Phi Y số tiền 767.277.000 (bảy trăm sáu mươi bảy triệu hai trăm bảy mươi bảy ngàn) đồng, bao gồm 500.000.000 đồng tiền gốc và 267.277.000 đồng tiền lãi.

    2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Bùi Thế H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 34.691.080 (ba mươi bốn triệu sáu trăm chín mươi mốt ngàn không trăm tám mươi) đồng nhưng được miễn nộp.
    3. Về nghĩa vụ thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Bùi Thế H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại TP. HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - TAND quận phú Nhuận;
  • - Chi cục THADS quận Phú Nhuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 719/2024/DS-PT ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 719/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger