TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 718/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 02/4/2025.
Về việc “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Đời.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng;
Ông Võ Văn Lợi.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Kim Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai Vụ án dân sự sơ thẩm số: 2795/2024/TLST-HNGĐ ngày 29/11/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2641/2025/QĐXXST-DS ngày 21/3/2025, giữa các đương sự:
• Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1978.
Địa chỉ: 7 đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, (xin vắng mặt).
• Bị đơn: Ông Đỗ Thế P, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Số F Đường số D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung Đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn bà Trần Thị Kim L trình bày: Về quan hệ hôn nhân, bà L và ông Đỗ Thế P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy Chứng nhận kết hôn số 182, quyển I/0003 ngày 29/12/2003. Sau khoảng thời gian chung sống, cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể giải hòa, hai người bất đồng quan điểm sống, sau đó hai vợ chồng sống ly thân một thời gian dài cho đến nay. Bà L xác nhận hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Đỗ Thế P.
Về con chung: Bà L khai bà và ông P có 02 người con chung gồm: Đỗ Trần Phương A (sinh ngày 12/10/2007) và Đỗ Trần Lan A1 (sinh ngày 18/7/2004). Bà L yêu cầu Tòa án giao con chung cháu Đỗ Trần Phương A cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, bà không yêu cầu ông P cấp dưỡng cho con. Đối với cháu Đỗ Trần Lan A1 đã thành niên nên bà không yêu cầu gì.
Về tài sản chung: Bà L trình bày hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.
Đồng thời, bà L có đơn yêu cầu không hòa giải đoàn tụ và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
- Theo nội dung bản tự khai, bị đơn ông Đỗ Thế P trình bày: Ông P xác nhận những lời trình bày của bà L về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng. Nay bà L yêu cầu ly hôn, ông P đồng ý ly hôn. Đồng thời, ông P cũng đồng ý yêu cầu của bà L về việc giao bà L là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cháu Đỗ Trần Phương A (sinh ngày 12/10/2007); ông P không cấp dưỡng cho con. Đối với cháu Đỗ Trần Lan A1 đã thành niên nên ông không có ý kiến gì. Đồng thời, ông P cũng yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ.
- Theo nội dung bản tự khai, cháu Đỗ Trần Phương A (sinh ngày 12/10/2007) trình bày: Trường hợp cha mẹ cháu không còn sống chung với nhau, cháu có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Ngoài ra, cháu không có ý kiến nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Xét thấy, nguyên đơn - bà Trần Thị Kim L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn - ông Đỗ Thế P, do đó căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp “Ly hôn”. Bị đơn có địa chỉ cư ngụ tại thành phố T nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Xét Bản tự khai, Đơn đề nghị không hòa giải đoàn tụ và xin vắng mặt của đương sự đã được thực hiện theo quy định nên đây được xem là chứng cứ hợp pháp của vụ án theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Do nguyên đơn và bị đơn đều có đề nghị vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết, yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về quan hệ hôn nhân: Qua lời trình bày của hai bên, cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định nguyên đơn và bị đơn là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy Chứng nhận kết hôn số 182, quyển I/0003, đăng ký ngày 29/12/2003 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, tại thời điểm đăng ký kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân giữa hai bên là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống, hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải hòa, nguyên đơn và bị đơn đã sống ly thân nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không có sự gắn kết. Do hai người hoàn toàn không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn là có cơ sở. Mặt khác, tại bản tự khai bị đơn cũng xác định không còn tình cảm và đồng ý ly hôn với nguyên đơn, cả hai đều yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ, điều đó thể hiện cả hai bên không có ý muốn đoàn tụ với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, hai bên không còn yêu thương, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, vi phạm nghĩa vụ vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho nguyên đơn ly hôn với bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Về con chung: Hai bên có 02 người con chung gồm: Đỗ Trần Phương A (sinh ngày 12/10/2007) và Đỗ Trần Lan A1 (sinh ngày 18/7/2004). Nguyên đơn yêu cầu sau khi ly hôn, giao con chung cháu Đỗ Trần Phương A (sinh ngày 12/10/2007) cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng cho con. Xét thấy, theo bản tự khai ghi nhận ý kiến của con chung trên 7 tuổi, cháu Đỗ Trần Phương A có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Đồng thời, bị đơn cũng thống nhất đồng ý với yêu cầu nêu trên của nguyên đơn, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này của hai bên. Giao con chung Đỗ Trần Phương A (sinh ngày 12/10/2007) cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm hoãn việc cấp dưỡng cho con đối với bị đơn. Đối với con chung Đỗ Trần Lan A1 (sinh ngày 18/7/2004) đã thành niên, các bên không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Hai bên xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 55; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Trần Thị Kim L.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Kim L ly hôn với ông Đỗ Thế P.
- Quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Kim L và ông Đỗ Thế P (theo Giấy Chứng nhận kết hôn số 182, quyển I/0003, đăng ký ngày 29/12/2003 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Bà Trần Thị Kim L và ông Đỗ Thế P có 02 (hai) người con chung gồm: Đỗ Trần Phương A (sinh ngày 12/10/2007) và Đỗ Trần Lan A1 (sinh ngày 18/7/2004). Công nhận sự thỏa thuận giữa bà L và ông P về việc giao con chung cháu Đỗ Trần Phương A (sinh ngày 12/10/2007) cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
- Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ này, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Đối với con chung cháu Đỗ Trần Lan A1 (sinh ngày 18/7/2004) đã thành niên, các bên không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về cấp dưỡng: Bà L không yêu cầu ông P cấp dưỡng cho con. Tạm hoãn việc cấp dưỡng cho ông Đỗ Thế P cho đến khi phát sinh yêu cầu, nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định.
- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Hai bên xác định không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Trần Thị Kim L phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà bà L đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0067329 ngày 19/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L đã nộp đủ án phí.
- Về quyền, thời hạn kháng cáo: Bà Trần Thị Kim L, ông Đỗ Thế P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị bản án theo quy định pháp luật.
- Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Danh Đời |
Bản án số 718/2025/HNGĐ-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 718/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
