Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Bản án số: 718/2024/DS-PT Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Ngày: 10/12/2024
V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.

Các Thẩm phán: 1. Ông Chu Tuấn Anh;

2. Ông Trương Chí Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Đức- Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 251/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 7 năm 2024, về việc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.

Do bản án sơ thẩm số 18/2024/DSST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 372/2024/QĐ-PT ngày 05/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 418/2024/QĐHPT-PT ngày 19 tháng 8 năm 2024; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 447/2024/TB-DS ngày 20 tháng 9 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 545/2024/QĐHPT-PT ngày 30 tháng 8 năm 2024; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 486/2024/TB-DS ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (sau đây gọi tắt là V1); trụ sở: số H L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chủ tịch HĐQT; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn A - Phó Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ KHDN và xử lý nợ pháp lý V1 (Theo văn bản ủy quyền số 58/2023/UQN-CTQT ngày 12/7/2023); Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Tuấn A: Ông Trịnh Chiêu M; ông Lê Đức H, ông Nguyễn Đình Đ, ông Lò Văn M1 - Cán bộ xử lý nợ của V1; địa chỉ: tầng G Tòa nhà V, số G D, quận C, Thành phố Hà Nội (Theo văn bản ủy quyền số 8958/2024/UQ-VPB ngày 14/10/2024).
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Quang T, sinh năm 1998; trú tại: Thôn X, xã K, huyện S, Thành phố Hà Nội.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Đức C, sinh năm 1969;
    2. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1976 (vợ ông C);
    3. Anh Nguyễn Tuấn A1, sinh năm 1998 (con ông C);
    4. Anh Nguyễn Tuấn Đ1, sinh năm 2007 (con ông C); Người đại diện theo pháp luật của anh Nguyễn Tuấn Đ1: Ông Nguyễn Đức C, bà Nguyễn Thị X;
    5. Bà Nguyễn Thị Mai H1, sinh năm 1971 (em ông C);
    6. Cùng trú tại: Số A, tổ A thị trấn Đ, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.

    7. Văn phòng C3; địa chỉ: Số nhà B, tổ D thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: ông Ngô Văn C1Trưởng văn phòng.
    8. Văn phòng C4; địa chỉ: Số A phố D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Anh K - Trưởng văn phòng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện hợp pháp của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP V trình bày:

Do cần tiền mua bất động sản nên anh Nguyễn Quang T đã ký kết Hợp đồng tín dụng với V1 cụ thể như sau:

  1. Hợp đồng cho vay số LN2012043103327 ký ngày 09/12/2020: Số tiền vay:1,600,000,000 đồng (Một tỷ sáu trăm triệu đồng chẵn). Mục đích vay: Thanh toán tiền mua bất động sản tại thửa đất số 80-2, tờ bản đồ số 54 địa chỉ: số A tổ D (nay là tổ A) thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Thời hạn vay: 300 tháng. Lãi suất trong hạn: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 9,4%/năm (Một năm được tính là 365 ngày). Lãi suất cho vay trong hạn sẽ được cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày 10/12/20210. Hết thời hạn 12 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kì 03 tháng/01 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10 hàng năm, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 10/12/2021, điều chỉnh sau đó vào ngày 01/01/2022. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức Lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 300 tháng được bên ngân hàng công bố (được niêm yết tai website: www.V1.com.vn có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 3.5%/năm. Lãi suất cho vay áp dụng với dư nợ gốc quá hạn (Lãi suất quá hạn); Bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất này được áp dụng kể từ thời điểm khoản tiền lãi của Bên vay bị chuyển quá hạn đến khi bên vay thanh toán hết khoản tiền lãi quá hạn.
  2. Giấy đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế số 379-P-1758160 ký ngày 16/12/2020: Hạn mức đề nghị: 50.000.000 đồng; Loại thẻ: MC StepUp Credit; Lãi suất: Theo quy định của V1: Lãi suất quá hạn được xác định bằng: 150% mức lãi suất trong hạn kể từ thời điểm phát sinh lãi quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất này được áp dụng kể từ thời điểm khoản tiền lãi của Bên vay bị chuyển quá hạn đến khi Bên vay thanh toán hết tiền lãi quá hạn.

Để bảo đảm cho khoản vay trên, ngày 17/12/2020, anh T đã ký kết với V1 Hợp đồng thế chấp số công chứng 5070/2020, quyển số 04-2020 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C4 - số A D, phường D, quận C, Hà Nội. Theo đó, anh T thế chấp cho V1 toàn bộ Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 80-2 tờ bản đồ số 54 tại địa chỉ: Số A tổ K (nay là tổ A), thị trấn Đ huyện Đ thành phố Hà Nội (chính là thửa đất anh T vay tiền để mua). Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CR 914174, số vào sổ cấp GCN: CS-ĐA 34100 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường thành phố H cấp ngày 11/07/2019 cho bà Nguyễn Thị Mai H1 và bà H1 chuyển nhượng cho anh T ngày 15/12/2020 theo hợp đồng số công chứng: 5070/2020, quyển số 04-2020 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 17/12/2020 tại trụ sở Văn phòng công chứng Nguyễn Khôi thành phố C4.

Do anh T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản vay nêu trên đã bị chuyển nợ quá hạn.

Tạm tính đến ngày 22/5/2024 anh T còn nợ V1 tổng số tiền là 2.135.876.988 đồng. Trong đó:

  • Đối với Hợp đồng cho vay số LN2012043103327 ký ngày 09/12/2020: Nợ gốc: 1.477.673.977 đồng; nợ lãi trong hạn: 25.072.935 đồng; nợ lãi quá hạn: 474.266.366 đồng; phạt chậm trả: 51.432.956 đồng. Tổng cộng: 2.033.779.253 đồng.
  • Đối với Thẻ tín dụng Hợp đồng số 379-P-1758160: Nợ gốc: 49.284.706 đồng; nợ lãi quá hạn: 52.813.029 đồng. Tổng cộng: 102.097.735 đồng.

Nay V1 yêu cầu Tòa án Tòa án giải quyết:

  1. Buộc anh Nguyễn Quang T phải thanh toán cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi tạm tính đến ngày 22/5/2024 là 2.084.444.032 đồng. Trong đó:
    • Đối với Hợp đồng cho vay số LN2012043103327 ký ngày 09/12/2020: Nợ gốc: 1.477.673.977 đồng; nợ lãi trong hạn: 25.072.935 đồng; nợ lãi quá hạn: 474.266.366 đồng. Tổng cộng: 1.982.346.297 đồng.
    • Đối với Thẻ tín dụng Hợp đồng số 379-P-1758160: Nợ gốc: 49.284.706 đồng; nợ lãi quá hạn: 52.813.029 đồng. Tổng cộng: 102.097.735 đồng.
  2. V1 tự nguyện không yêu cầu anh T phải trả số tiền phạt chậm trả lãi là: 51.432.956 đồng.

  3. Anh Nguyễn Quang T phải chịu lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Thẻ tín dụng kể từ ngày 23/5/2024 cho đến khi anh Nguyễn Quang T thanh toán hết nợ cho V1.
  4. Nếu anh T không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số nợ cho V1 thì V1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 80-2 tờ bản đồ số 54 tại địa chỉ: Số A tổ K (nay là tổ A), thị trấn Đ huyện Đ thành phố Hà Nội. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CR 914174, số vào sổ cấp GCN: CS-ĐA 34100 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường thành phố H cấp ngày 11/07/2019. Ngày 15/12/2020,tại Sở Tài Nguyên và Môi Trường thành phố H- Văn Phòng C4 đã đăng ký sang tên cho ông Nguyễn Quang T. Chi tiết theo hợp đồng số công chứng: 5070/2020, quyển số 04-2020 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 17/12/2020 tại trụ sở Văn phòng công chứng Nguyễn Khôi thành phố C4 địa chỉ: Số A phố D phường D quận C thành phố Hà Nội.

- Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm được thực hiện nghĩa vụ trả nợ của anh T đối với V1. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V1 thì anh T phải tiếp tục chịu trách nhiệm trả số nợ còn lại cho V1.

Về án phí: Anh T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, V1 tự nguyện chịu, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/6/2023, bị đơn - anh Nguyễn Quang T trình bày:

Anh xác định có vay của V1 số tiền 1.600.000.000 đồng theo Hợp đồng cho vay số LN2012043103327 ký ngày 09/12/2020. Ngoài ra anh còn ký Hợp đồng mở thẻ tín dụng số 379-P-1758160 với hạn mức 50.000.000 đồng.

Để bảo đảm cho khoản vay trên, ngày 17/12/2020, anh đã ký kết với V1 Hợp đồng thế chấp tại Văn phòng C5 Theo đó, anh thế chấp cho V1 toàn bộ Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 80-2 tờ bản đồ số 54 tại địa chỉ: Số A tổ K, thị trấn Đ huyện Đ thành phố Hà Nội (chính là thửa đất anh vay tiền để mua).

Quá trình thực hiện hợp đồng, anh trả cho V1 theo đúng thỏa thuận được khoảng 01 năm, sau đó do công việc làm ăn gặp nhiều khó khăn nên anh không trả nợ cho V1 nữa.

Nay V1 khởi kiện yêu cầu anh trả toàn bộ số tiền nợ cho V1, nếu không sẽ phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ thì anh xác định do anh đang bị tạm giam về hành vi tổ chức đánh bạc nên anh không có điều kiện trả nợ cho V1, anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh xác định thửa đất thế chấp là của cá nhân anh, anh mua bằng tiền vay V1, không liên quan đến ai khác, sau khi mua nhà đất thì anh vẫn để cho bà H1 ở, hai bên có thỏa thuận là cho bà H1 thuê lại để ở. Anh không có ý kiến gì đối với Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp mà hai bên đã ký kết, anh cũng không có yêu cầu phản tố. Do anh bị tạm giam nên anh xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án, kể cả khi xem xét thẩm định và xét xử, anh đề nghị không tiến hành hòa giải mà đề nghị giải quyết theo quy định.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Đức C trình bày:

Bố ông Nguyễn Đức B mẹ ông là Vũ Thị Tuyết L có thửa đất số 80, tờ bản đồ số 54 địa chỉ: số A tổ D (nay là tổ A) thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên bố mẹ ông vào ngày 27/12/2000.

Bố mẹ ông sinh được 03 người con lần lượt là: 1/ Ông - Nguyễn Đức C; 2/ Em gái ông là Nguyễn Thị Mai H1, sinh năm 1971; 3/ Em gái út là Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1973.

Bố mẹ ông và ba anh em ông sinh sống trên thửa đất này từ khi ông sinh ra. Năm 2005, bố ông chết; năm 2019 mẹ ông chết. Từ khoảng năm 1996, em H1 đi lấy chồng sau đó ly hôn lại quay về nhà đất này sinh sống. Khoảng năm 1994, em gái út là H2 lấy chồng và về ở nhà chồng ở tổ A thị trấn Đ từ đó cho đến nay.

Năm 1997, ông lấy vợ là Nguyễn Thị X - sinh năm 1976 và vợ chồng ông ở cùng nhà đất này với gia đình ông và sinh được 02 người con là Nguyễn Tuấn A1 và Nguyễn Tuấn Đ1.

Thửa đất số 80 của bố mẹ ông rộng 117 m² nhưng khi bố mẹ ông còn sống đã chuyển nhượng cho người khác một phần còn lại 56,3 m² và tên thửa đất là 80-2. Năm 2010, sau khi bố ông chết, mẹ ông đã phá dỡ nhà cũ để xây nhà 03 tầng như hiện nay có trên đất.

Bản thân ông là con trai duy nhất của bố mẹ ông, ông không biết từ bao giờ và vì sao thửa đất của gia đình ông lại đứng tên em gái của ông là Nguyễn Thị Mai H1; ông cũng không biết vì lý do gì em H1 lại chuyển nhượng đất cho anh Nguyễn Quang T và anh T đã thế chấp thửa đất để vay tiền của V1. Về mặt thực tế thì ông vẫn sinh sống thường xuyên liên tục từ nhỏ đến nay trên thửa đất này, sau khi ông lấy vợ sinh con thì vợ con ông vẫn sống cùng nhà với ông.

Ông cũng biết về mặt pháp luật thì ông không có quyền sở hữu sử dụng đối với nhà đất này nhưng ngoài nơi ở này ra thì ông không còn nơi ở nào khác.

Quá trình giải quyết ban đầu ông C đề nghị V1 cho ông thêm thời gian để thỏa thuận với anh T, chuộc nhà đất này lại cho gia đình ông. Ông không có ý kiến gì về việc nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng cho bà H1 cũng như việc bà H1 chuyển nhượng cho anh T và anh T đã thế chấp để vay tiền V1 vì mọi việc đằng nào cũng đã xảy ra rồi.

Tuy nhiên sau đó, ông C có yêu cầu độc lập, yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Hủy Hợp đồng chuyển nhượng số công chứng: 5070/2020, quyển số 04-2020 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/12/2020 của Văn phòng C4 đối với thửa đất số 80-2, tờ bản đồ số 54 Tổ A thị trấn Đ, huyện Đ, Hà Nội.
  2. Hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng 2871/2019/HĐTC, quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/6/2019 của Văn phòng C3 đối với thửa đất số 80-2, tờ bản đồ số 54 Tổ A thị trấn Đ, huyện Đ, Hà Nội.
  3. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 914174 do Sở T cấp ngày 11/7/2019 cho bà Nguyễn Thị Mai H1 đối với thửa đất số 80-2, tờ bản đồ số 54, diện tích 56,3m² địa chỉ: Tổ A thị trấn Đ, huyện Đ, Hà Nội.

Ông xác định ông không ký vào Văn bản thỏa thuận phân chia và tặng cho di sản thừa kế được lập tại Văn phòng C3 ngày 23/4/2010. Ông đã được Tòa án cho xem Văn bản thỏa thuận phân chia và tặng cho di sản thừa kế được lập tại Văn phòng công chứng Trung tâm ngày 23/4/2010, ông khẳng định không phải chữ ký, ghi rõ họ tên và điểm chỉ của ông tại Văn bản này, ông có đơn đề nghị giám định chữ ký, ghi rõ họ tên và điểm chỉ của ông. Tòa án đã ban hành thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí giám định và giao cho ông C theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quá thời hạn được ấn định trong thông báo, ông C không nộp tiền tạm ứng chi phí giám định và cũng không có lý do chính đáng nên việc giám định không thực hiện được. Ông đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình, tuy nhiên ông có ý kiến bổ sung: Ông đã ra Văn phòng công chứng Trung tâm, ông đã được Văn phòng cho xem Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng 2871/2019/HĐTC, quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/6/2019 của Văn phòng C3, ông công nhận đúng chữ ký của mình trong văn bản này, ông khẳng định khi ông ký văn bản này là chỉ ký vào giấy trắng mặc dù ông không nhớ ký ở đâu. Việc em gái ông là bà H1 bảo ông ký vào giấy trắng là không đúng với ý chí của ông nên ông vẫn đề nghị hủy Hợp đồng tặng cho này.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị Mai H1 trình bày:

Bố bà là Nguyễn Đức B mẹ bà là Vũ Thị Tuyết L có thửa đất số 80, tờ bản đồ số 54 địa chỉ: số A tổ D (nay là tổ A) thị trấn Đ, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên bố mẹ bà vào ngày 27/12/2000.

Bố mẹ bà sinh được 03 người con lần lượt là: 1/ Anh trai bà là Nguyễn Văn C2, sinh năm 1969; 2/ Bà - Nguyễn Thị Mai H1; 3/Em gái út là Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1973.

Bố mẹ bà và ba anh em bà đều sinh sống trên thửa đất này từ khi bà sinh ra. Năm 2005, bố bà chết; năm 2019, mẹ bà chết. Năm 1996, bà lấy chồng nhưng vẫn ở trên nhà đất này cho đến nay vì bà không về ở nhà chồng. Khoảng năm 1994, em gái út của bà lấy chồng và về ở nhà chồng ở Tổ A thị trấn Đ từ đó cho đến nay.

Năm 1997, ông C2 lấy vợ là Nguyễn Thị X - sinh năm 1976 và vợ chồng ông C2 ở trên nhà đất này cùng với con của ông C2 là Nguyễn Tuấn A1 và Nguyễn Tuấn Đ1. Bà sau khi ly hôn chồng ở tại nhà đất này.

Thửa đất số 80 của bố mẹ bà có diện tích 117m², khi bố mẹ bà còn sống đã chuyển nhượng cho người khác một phần còn lại 56,3m² và tên thửa đất là 80-2. Ngay sau khi bán đất, bố mẹ bà đã dùng tiền bán đất để xây nhà 03 tầng như hiện nay. Năm 2019, mẹ bà tặng cho bà thửa đất là 80-2 này và năm 2020 thì bà chuyển nhượng cho anh Nguyễn Quang T. Thực ra, bà nhờ anh T đứng tên để thế chấp vay V1 giúp bà vì trước đó bà đã thế chấp vay Ngân hàng và bị nợ xấu nên không thể tự vay tiền được nữa. Mặc dù như vậy nhưng bà không có ý kiến gì về việc sang tên thửa đất cho anh T vì là chỗ quan hệ quen biết xã hội nhưng là giúp đỡ nhau. Sau này, khi đã xóa thế chấp thì anh T sẽ chuyển nhượng sang tên lại cho bà thửa đất 80-2 và đây là việc riêng giữa bà và anh T.

Nay V1 khởi kiện anh T yêu cầu anh T trả nợ cho V1, nếu không sẽ yêu cầu phát mại nhà đất thế chấp để thu hồi nợ thì bà đề nghị V1 cho thêm thời gian để thu xếp tiền để trả V1 để giải chấp tài sản thế chấp ra.

Bà không có ý kiến gì về việc đã chuyển nhượng đất cho anh T và anh T đã thế chấp để vay tiền V1.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Tuấn A1 không đến Toà án làm việc. Ông Nguyễn Đức C có nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của bà X xác định bà có đóng góp trong việc xây dựng ngôi nhà trên đất thế chấp hiện nay với số tiền 80.000.000 đồng. Tòa án đã yêu cầu bà X cung cấp tài liệu chứng cứ nhưng bà X không cung cấp và Tòa án đã triệu tập nhưng cũng không đến Tòa án để làm việc. Anh Nguyễn Tuấn A1 không có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Văn phòng C4 có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án:

Ngày 17/12/220, bên thế chấp là anh Nguyễn Quang T và bên nhận thế chấp V1 có yêu cầu Văn phòng C4 công chứng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 80-2 tờ bản đồ số 54 tại địa chỉ: Số A tổ D, thị trấn Đ huyện Đ, thành phố Hà Nội; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CR 914174, số vào sổ cấp GCN: CS-ĐA 34100 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường thành phố H cấp ngày 11/07/2019. Ngày 15/12/2020, Văn phòng C4 đã đăng ký sang tên cho anh Nguyễn Quang T. Trên cơ sở này Văn phòng C4 đã tiếp nhận hồ sơ công chứng và thực hiện thủ tục công chứng theo đúng quy định của pháp luật đối với việc thế chấp tài sản nêu trên của khách hàng. Việc thế chấp tài sản này được thể hiện cụ thể tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 5070/2020, quyển số 04-2020 TP/CC-SCC/HĐGD do Công chứng viên Văn phòng C4 chứng nhận ngày 17/12/2020. Trên cơ sở hồ sơ đã tiếp nhận, Văn phòng C4 khẳng định đã chứng nhận và thực hiện thủ tục công chứng đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên theo đúng trình tự và quy định của pháp luật. Toàn bộ hồ sơ tài sản và giấy tờ nhân thân do các bên cung cấp và xuất trình là bản chính theo quy định của pháp luật, không tìm thấy dấu hiệu giả tạo. Quá trình tra cứu giao dịch về tài sản xuất hiện thông tin chuyển nhượng giữa bên chuyển nhượng - bà Nguyễn Thị Mai H1 và anh Nguyễn Quang T - bên nhận chuyển nhượng, giao dịch chuyển nhượng tài sản được thực hiện tại Văn phòng C3; Nội dung chuyển nhượng và thông tin chuyển nhượng được thể hiện trên Uchi tra cứu về giao dịch tài sản phù hợp với nội dung đã được đăng ký sang tên tại Cơ quan đăng ký đất đai và đã được ghi nhận trên Giấy chứng nhận số CR 914174; Ngày 15/12/2020, tại Sở Tài nguyên và môi trường thành phố H - Văn phòng C4 đã đăng ký sang tên anh Nguyễn Quang T. Như vậy tài sản đủ điều kiện giao dịch vì thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Quang T và đủ điều kiện để thực hiện giao dịch thế chấp.

Văn phòng C4 không thấy có căn cứ và không đồng ý với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là hủy Hợp đồng thế chấp số công chứng: 5070/2020, quyển số 04-2020 TP/CC-SCC/HĐGD do Công chứng viên Văn phòng C4 chứng nhận ngày 217/12/2020.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Văn phòng C3 có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án:

  1. Hồ sơ công chứng Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 2871/219/HĐTC ngày 26/6/2019 là đầy đủ, đúng quy định của Luật công chứng; được thực hiện đúng trình tự thủ tục, đảm bảo cả nội dung và hình thức hợp đồng theo quy định của Luật công chứng và các quy định khác của pháp luật. Hợp đồng được thiết lập đầy đủ nội dung, theo đó các điều khoản của hợp đồng quy định rõ quyền, nghĩa vụ, các cam kết và hậu quả của các bên tham gia giao kết hợp đồng.
  2. Quá trình thực hiện công chứng đã kiểm tra các giấy tờ, hồ sơ như CMND, sổ hộ khẩu gia đình, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, đơn xin xác nhận, Văn bản thỏa thuận phân chia và tặng cho di sản thừa kế, đối chiếu chính chủ, tất cả các giấy tờ tài liệu do công dân xuất trình làm hồ sơ công chứng đều đầy đủ, chính xác, do cơ quan có thẩm quyền cấp (không quá hạn).

  3. Để đảm bảo tính có căn cứ, đúng pháp luật của Hợp đồng, các bên đã có cam kết trong Hợp đồng:
    • Bên A cam đoan: Khi tặng cho quyền sử dụng đất nêu trong Hợp đồng thì Quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bên A. Quyền sử dụng đất không bị tranh chấp về quyền sử dụng và quyền thừa kế. Tại thời điểm ký Hợp đồng, bên A không bị ràng buộc bởi bất kỳ giao dịch dân sự nào liên quan đến quyền sử dụng đất đem tặng cho theo Hợp đồng (đặt cọc, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố, ủy quyền, cho thuê...). Sau khi ký Hợp đồng, bên A không thực hiện bất cứ một giao dịch dân sự nào liên quan đến quyền sử dụng đất đem tặng cho theo Hợp đồng mà không phải là bên B để đảm bảo cho bên B được toàn quyền sử dụng diện tích đất nêu trong Hợp đồng. Không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nào khác ngoài giấy tờ nêu trong hợp đồng. Không bỏ sót thành viên nào là đồng sử dụng quyền sử dụng đất nêu trên để ký hợp đồng. Trong trường hợp diện tích đất tặng cho có tài sản gắn liền với đất nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu thì bên A cũng đồng ý bàn giao cho bên B mà không có bất kỳ thắc mắc hay đòi hỏi nào. Nếu các cam đoan trên là sai sự thật dẫn đến việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xem xét lại hiệu lực của Hợp đồng thì bên A phải bồi thường mọi thiệt hại gây ra cho bên nhận và bên thứ ba có liên quan.
    • Bên B cam đoan: Bên B đã tự mình xem xét, biết rõ về nguồn gốc sử dụng và hiện trạng thửa đất nêu trong Hợp đồng. Bên B đã hiểu rõ các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
    • Cam đoan chung của bên A và bên B: Thực hiện đúng và đầy đủ tất cả các thỏa thuận đã ghi trong Hợp đồng. Tại thời điểm giao kết Hợp đồng, các bên hoàn toàn tự nguyện, minh mẫn không bị lừa dối hay ép buộc, có đủ năng lực hành vi dân sự; đồng thời hai bên đã biết rõ về nhân thân và thông tin của nhau. Những giấy tờ về nhân thân, tài sản mà các bên mang đến xuất trình cho Văn phòng công chứng và được ghi trong hợp đồng là giấy tờ thật, được cấp đúng thẩm quyền, còn nguyên giá trị pháp lý và không bị tấy xóa, sửa chữa. Chữ ký/dấu điểm chỉ trong hợp đồng đúng với chữ ký/dấu điểm chỉ của những người tham gia giao dịch.
  4. Những cam đoan trên của các bên đều là thật, nếu có khiếu nại, khiếu kiện gì về bất kỳ nội dung nào mà bên A và bên B đã cam đoan ở trên dẫn đến hợp đồng vô hiệu (kể cả vô hiệu một phần), bên A và bên B xin chịu trách nhiệm trước pháp luật, kể cả việc mang tài sản chung, riêng của mình ra để đảm bảo cho cam đoan, không yêu cầu Công chứng viên và Văn phòng C3 chịu bất kỳ một trách nhiệm nào.

  5. Đến thời điểm hiện tại Văn phòng C3 cũng không nhận được bất cứ đơn thư khiếu nại, tố cáo nào liên quan đến hợp đồng cũng như liên quan đến quyền sử dụng đất nêu trên.
  6. Việc công chứng được thực hiện hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc hoặc lừa dối, cam kết đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bên tặng cho, không bị hạn chế giao dịch, đủ thành phần ký kết giao dịch và đất không có tranh chấp. Nếu có phát sinh mâu thuẫn các bên tự dàn xếp hoặc khởi kiện dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để giải quyết, xét xử theo quy định của pháp luật.
  7. Hai bên đã tự đọc lại và được Công chứng viên giải thích toàn bộ nội dung của hợp đồng, các quyền, nghĩa vụ, các lợi ích hợp pháp cũng như hậu quả pháp lý của việc giao kết hợp đồng. Hai bên đã đọc lại toàn bộ hợp đồng, công nhận đã hiểu rõ, đồng ý toàn bộ nội dung của Hợp đồng, ký tên/điểm chỉ vào hợp đồng để làm bằng chứng.

Tóm lại, Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 2871/2019/HĐTC ngày 26/6/2019 của Văn phòng C3 được thực hiện có đầy đủ các tài liệu theo quy định. Các bên giao kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hoặc ép buộc. Hợp đồng được thiết lập, ký kết và chứng nhận theo đúng trình tự, thủ tục theo Luật công chứng và các quy định khác của pháp luật.

Do vậy Văn phòng C3 không đồng ý với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là: Yêu cầu hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 2871/2019/HĐTC ngày 26/6/2019 nêu trên.

Đối với việc ông Nguyễn Đức C khẳng định không phải chữ ký, ghi rõ họ tên và điểm chỉ của ông tại Văn bản thỏa thuận phân chia và tặng cho di sản thừa kế được lập tại Văn phòng công chứng Trung tâm ngày 23/4/2010 thì Văn phòng C3 khẳng định việc lập văn bản này được thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật và bản chính của văn bản này đang được lưu giữ tại Văn phòng.

Đối với bà Nguyễn Thị Thu H2 - sinh năm 1973 là em gái ông Nguyễn Đức C, Tòa án đã triệu tập bà đến Tòa án để ghi ý kiến của bà nhưng bà H2 không đến nên việc ghi ý kiến của bà không thực hiện được.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DSST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, đã xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V1.
  2. Buộc anh Nguyễn Quang T phải thanh toán cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi tạm tính đến ngày 22/5/2024 là 2.084.444.032 đồng.

    Trong đó:

    Đối với Hợp đồng cho vay số LN2012043103327 ký ngày 09/12/2020: Nợ gốc: 1.477.673.977 đồng; nợ lãi trong hạn: 25.072.935 đồng; nợ lãi quá hạn: 474.266.366 đồng. Tổng cộng: 1.982.346.297 đồng.

    Đối với Thẻ tín dụng Hợp đồng số 379-P-1758160 ngày 16/12/2020: Nợ gốc: 49.284.706 đồng; nợ lãi quá hạn: 52.813.029 đồng. Tổng cộng: 102.097.735 đồng.

    Ghi nhận sự tự nguyện của V1 về việc tự nguyện không yêu cầu anh T phải trả số tiền phạt chậm trả lãi là: 51.432.956 đồng.

    Buộc anh Nguyễn Quang T phải thanh toán cho V1 các khoản lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số LN2012043103327 ký ngày 09/12/2020 và Hợp đồng số 379-P-1758160 ngày 16/12/2020 kể từ ngày 23/5/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

    Kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật nếu anh Nguyễn Quang T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì V1 có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án kê biên và phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là:

    Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 80-2 tờ bản đồ số 54 tại địa chỉ: Số A tổ K (nay là tổ A), thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CR 914174, số vào sổ cấp GCN: CS-ĐA 34100 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường thành phố H cấp ngày 11/07/2019. Ngày 15/12/2020, tại Sở Tài Nguyên và Môi Trường thành phố H- Văn Phòng C4 đã đăng ký sang tên cho ông Nguyễn Quang T với diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giới hạn bởi các điểm 1-2-3-4-1 (có sơ đồ kèm theo).

    Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm được thực hiện nghĩa vụ trả nợ của anh T đối với V1. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V1 thì anh T phải tiếp tục chịu trách nhiệm trả số nợ còn lại cho V1.

    Trường hợp, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của V1, tổ chức tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của V1 tổ chức tín dụng cho vay.

    Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đức C.

    Ngoài ra, bản án còn quyết định xử lý tiền tạm ứng án phí, tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau phiên toà sơ thẩm, ngày 06/6/2024, ông Nguyễn Đức C, bà Nguyễn Thị X kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Người kháng cáo - ông Nguyễn Đức C, bà Nguyễn Thị X trình bày:

Bố ông C là cụ Nguyễn Đức B mẹ ông là cụ Vũ Thị Tuyết L có thửa đất số 80, tờ bản đồ số 54 địa chỉ: số A tổ D (nay là tổ A) thị trấn Đ, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên bố mẹ ông C.

Bố mẹ ông C sinh được 03 người con là ông, bà H1, bà H2.

Gia đình ông C sinh sống trên mảnh đất này khi ông C còn nhỏ. Năm 1997, ông C kết hôn với bà X và ông bà vẫn sống cùng bố mẹ. Trước đây, bố mẹ ông C đã bán một phần đất; bố mẹ ông C xây nhà 03 tầng kết cấu bê tông cốt thép như hiện nay. Vợ chồng ông C ở cùng bố mẹ có đóng góp vào việc xây nhà nhưng không có chứng cứ chứng minh.

Sau khi bố ông C chết thì cả 03 anh em ông có khước từ quyền thừa kế để một mình mẹ ông C đứng tên trong GCNQDSÐ. Ông C xác nhận chữ ký của ông C trong Văn bản thỏa thuận phân chia và tặng cho di sản thừa kế ngày 23/4/2010 tại Văn phòng C3 đúng là chữ ký của ông C nhưng do trình độ thấp nên ông C không biết rõ về nội dung văn bản này. Ông C không biết từ bao giờ nhà đất lại đứng tên bà H1; cũng không biết tại sao bà H1 lại chuyển nhượng đất cho anh Nguyễn Quang T. Ông C giữ nguyên yêu cầu độc lập, yêu cầu Tòa án giải quyết đối với thửa đất số 80-2, tờ bản đồ số 54, diện tích 56,3m² địa chỉ: Tổ A thị trấn Đ, huyện Đ, Hà Nội gồm: Hủy Văn bản thỏa thuận phân chia và tặng cho di sản thừa kế ngày 23/4/2010 tại Văn phòng C3; Hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng 2871/2019/HĐTC, quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/6/2019 của Văn phòng C3; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 914174 do Sở T cấp ngày 11/7/2019 cho bà Nguyễn Thị Mai H1; Hủy Hợp đồng chuyển nhượng số công chứng: 5070/2020, quyển số 04-2020 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/12/2020 của Văn phòng C5

Ông C đề nghị Toà án triệu tập bà H1 và ông T đến Toà để giải quyết khoản nợ và sang tên lại nhà đất cho ông. Nếu không thì đề nghị Toà án tuyên huỷ bản án sơ thẩm; tạm đình chỉ giải quyết vụ án và chuyển hồ sơ đến cơ quan Công an để điều tra.

Anh Nguyễn Tuấn A1 (là con trai của ông C, bà X) đồng ý như ý kiến của ông C, bà X trình bày.

Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý vụ án đến phiên toà xét xử vụ án.

Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình diễn biến tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đức C, bà Nguyễn Thị X, áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 18/2024/DSST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về thủ tục kháng cáo:

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 22/5/2024, có mặt ông Nguyễn Đức C; vắng mặt bà Nguyễn Thị X. Ngày 22/5/2025, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành tống đạt bản án cho các đương sự theo quy định của pháp luật. Ngày 06/6/2024, ông Nguyễn Đức C, bà Nguyễn Thị X có đơn kháng cáo và nộp cho Toà án cấp sơ thẩm; người kháng cáo đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Do đó, kháng cáo đảm bảo về chủ thể, hình thức, nội dung và trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về phạm vi kháng cáo của ông Nguyễn Đức C, bà Nguyễn Thị X kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

[1.2]. Về sự vắng mặt tại phiên toà phúc thẩm:

Các đương sự đều đã được tống đạt hợp lệ đến tham gia phiên tòa. Tại phiên có mặt đại diện V1 là ông Nguyễn Đình Đ, ông Lò Văn M1; ông Nguyễn Đức C, bà Nguyễn Thị X, anh Nguyễn Tuấn A1, Vắng mặt anh Nguyễn Quang T, bà Nguyễn Thị Mai H1, Văn phòng C3, Văn phòng C5 Hội đồng xét xử thấy cần xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Xét kháng cáo của ông Nguyễn Đức C, bà Nguyễn Thị X:

[2.1]. Xét nguồn gốc nhà, đất tại thửa đất số 80-2 tờ bản đồ số 54, địa chỉ: Số A tổ K (nay là tổ A), thị trấn Đ, huyện Đ, Thành phố Hà Nội:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Nguồn gốc nhà, đất thửa đất số 80-2 tờ bản đồ số 54, địa chỉ: Số A tổ K (nay là tổ A), thị trấn Đ thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Đức B và vợ là bà Vũ Thị Tuyết L theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở mà số 10117010769, hồ sơ gốc số 2495.2001, Quyết định số 7409.2000.QĐUB do UBND thành phố H cấp ngày 27/12/2000. Ông Nguyễn Đức B, chết ngày 28/11/2005 không để lại di chúc, nghĩa vụ tài sản. Quan hệ huyết thống của ông Nguyễn Đức B gồm:

Bố đẻ của ông B là cụ Nguyễn Đức N đã chết ngày 10/6/1986, mẹ đẻ của ông B là cụ Nguyễn Thị T2 đã chết ngày 03/01/2000. Ông Nguyễn Đức B có vợ là bà Vũ Thị Tuyết L; ông B và bà L có 03 con chung là Nguyễn Đức C, Nguyễn Thị Mai H1, Nguyễn Thị Thu H2. Ông B không có bố nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi nào khác.

Do vậy di sản thừa kế của ông B là một phần quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất tại số A tổ D K thị trấn Đ nói trên thuộc quyền thừa kế của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông B là bà L, ông C, bà H1 và bà H2.

Ngày 23/4/2010, tại Văn phòng C3 (địa chỉ: Tổ F, thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội), những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông B gồm: Bà L, ông C, bà H1,bà H2 đã tự nguyện cùng nhau lập và ký Văn bản thỏa thuận phân chia và tặng cho di sản thừa kế là một phần quyền sử dụng đất. Tại Điều 2 Văn bản thỏa thuận phân chia và tặng cho di sản thừa kế có nội dung: “...Anh Nguyễn Đức C, chị Nguyễn Thị Mai H1, chị Nguyễn Thị Thu H2 đồng ý tặng cho toàn bộ phần di sản mà mình được hưởng từ bố là ông Nguyễn Đức B cho bà Vũ Thị Tuyết L, việc tặng cho là dứt khoát, không nhằm trốn tránh bất cứ nghĩa vụ gì và không kèm theo bất cứ điều kiện gì. Bà Vũ Thị Tuyết L đồng ý nhận toàn bộ phần di sản thừa kế mà anh Nguyễn Đức C, chị Nguyễn Thị Mai H1, chị Nguyễn Thị Thu H2 được hưởng tặng cho mình. Thỏa thuận phân chia và tặng cho di sản này là dứt khoát và không kèm theo bất cứ điều kiện gì...”

Do vậy, di sản của ông B là một phần quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất tại số A tổ D K thị trấn Đ thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà L và bà L có toàn quyền quản lý, sử dụng, định đoạt toàn bộ nhà ở và quyền sử dụng đất tại số A tổ D K, thị trấn Đ, Hà Nội.

Ngày 26/6/2019, tại Văn phòng C3, bà Vũ Thị Tuyết L, bà Nguyễn Thị Mai H1 đã tự nguyện cùng nhau lập và ký Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 80-2, tờ bản đồ 54 ở Số A, tổ D thị trấn Đ, huyện Đ, Hà Nội với diện tích hiện còn được sử dụng là 56,3m² với hình thức sử dụng riêng là 56,3m² (Nhà ở 01 tầng xây gạch, diện tích xây dựng 45m², diện tích sử dụng 36m² đã bị phá dỡ toàn bộ theo Đơn xác nhận do UBND thị trấn Đ xác nhận ngày 29/3/2019).

Trên cơ sở Hợp đồng tặng cho thửa đất số 80-2, tờ bản đồ 54 ở Số A, tổ D thị trấn Đ, chị H1 đã làm thủ tục sang tên và Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên bà Nguyễn Thị Mai H1 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Ngày 09/12/2020, tại Văn phòng C3, bà Nguyễn Thị Mai H1 đã tự nguyện lập và ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 80-2, tờ bản đồ 54 ở Số A, tổ D thị trấn Đ, huyện Đ, Hà Nội với diện tích sử dụng là 56,3m² cho anh Nguyễn Quang T. Sau khi ký Hợp đồng chuyển nhượng, anh T đã làm thủ tục sang tên và Sở T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên anh Nguyễn Quang T là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Do vậy, anh Nguyễn Quang T là người có quyền sử dụng nhà, đất tại thửa đất số 80-2, tờ bản đồ 54 ở Số A, tổ D thị trấn Đ, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; việc nhà đất đứng tên anh T trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[2.2]. Xét Hợp đồng tín dụng số LN2012043103327 ngày 09/12/2020; Giấy đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế số 379-P-1758160 ký ngày 16/12/2020:

Các đương sự không có kháng cáo về Hợp đồng tín dụng số LN2012043103327 ngày 09/12/2020; Giấy đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế số 379-P-1758160 ký ngày 16/12/2020; không kháng cáo về tiền nợ gốc, nợ lãi nên Hội đồng xét xử không xét.

[2.3]. Xét Hợp đồng thế chấp số công chứng 5070/2020, quyển số 04-2020 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 17 tháng 12 năm 2020 tại Văn phòng C4:

Hội đồng xét xử nhận thấy,

Đ2 bảo đảm cho khoản vay tại V1, ngày 17/12/2020 tại Văn phòng C4, anh Nguyễn Quang T đã dùng tài sản đứng tên mình là “Thửa đất số 80-2 tờ bản đồ số 54 tại địa chỉ: Số A tổ K (nay là tổ A), thị trấn Đ huyện Đ thành phố Hà Nội” để ký Hợp đồng thế chấp vay vốn tại V1. Hai bên đã thỏa thuận và ký Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 5070/2020, quyển số 04-2020 TP/CC-SCC/HĐGD.

V1 và anh Nguyễn Quang T ký kết Hợp đồng thế chấp trên cơ sở tự nguyện, nội dung thỏa thuận giữa các bên không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội; thời điểm ký kết Hợp đồng thế chấp anh T là chủ quản lý, sử dụng của tài sản thế chấp. Do vậy, Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 5070/2020, quyển số 04-2020 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/12/2020 ký kết giữa V1 và anh Nguyễn Quang T có hiệu lực đối với các bên tham gia ký kết, các bên đều phải thực hiện và tuân thủ.

Do vậy, Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và quyết định trong trường hợp anh Nguyễn Quang T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ với V1, V1 được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp cho khoản vay để xử lý, thu hồi nợ là có căn cứ, đúng quy định.

[2.4]. Xét yêu cầu độc lập của của ông Nguyễn Đức C:

Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Đức C có yêu cầu độc lập về việc yêu cầu: Hủy Văn bản thỏa thuận phân chia và tặng cho di sản thừa kế ngày 23/4/2010 tại Văn phòng C3; Hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng 2871/2019/HĐTC, quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/6/2019 của Văn phòng C3; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 914174 do Sở T cấp ngày 11/7/2019 cho bà Nguyễn Thị Mai H1; Hủy Hợp đồng chuyển nhượng số công chứng: 5070/2020, quyển số 04-2020 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/12/2020 của Văn phòng C5

Theo nhận định tại mục [2.1] việc các bên tham gia ký kết Văn bản thỏa thuận phân chia và tặng cho di sản thừa kế ngày 23/4/2010 có sự tham gia đầy đủ của những người có quyền lợi, trên cơ sở tự nguyện, nội dung thỏa thuận giữa các bên không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội; bản thân ông C xác nhận có ký vào văn bản để sang tên nhà đất cho bà Vũ Thị Tuyết L. Việc bà L sau đó lập hợp đồng tặng cho bà H1, bà H1 lập hợp đồng chuyển nhượng cho anh T là thực hiện quyền của người sử dụng đất theo Điều 166, Điều 167 Luật đất đai năm 2013.

Do vậy, Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông C là có căn cứ.

Từ những phân tích tại mục [2] Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Đức C, bà Nguyễn Thị X.

[3]. Về án phí:

[3.1]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ngân hàng TMCP V được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; bị đơn - anh Nguyễn Quang T phải chịu số tiền 73.688.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Do không được chấp nhận yêu cầu độc lập nên ông Nguyễn Đức C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[3.2].Về án phí dân sự phúc thẩm:

Do không được chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm nên người kháng cáo là ông Nguyễn Đức C, bà Nguyễn Thị X mỗi người phải chịu 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.

Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Điều 317; khoản 6 Điều 320; Điều 463; khoản 1 và khoản 5 Điều 466; Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Điều 166, Điều 167 Luật đất đai năm 2013;
  • Điều 5, Điều 41, Điều 42, Điều 44 Luật công chứng;
  • Khoản 2 khoản 3 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng;
  • Điều 271, Điều 272, Điều 273; khoản 2 Điều 296; khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2029/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Đức C, bà Nguyễn Thị X, giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V (V1) đối với bị đơn- anh Nguyễn Quang T.

[1.1] Buộc anh Nguyễn Quang T phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP V (V1) toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi tạm tính đến ngày 22/5/2024 là 2.084.444.032 (hai tỷ, không trăm tám mươi tư triệu, bốn trăm bốn mươi bốn nghìn, không trăm mươi hai) đồng. Trong đó:

Đối với Hợp đồng cho vay số LN2012043103327 ký ngày 09/12/2020: Nợ gốc: 1.477.673.977 đồng; nợ lãi trong hạn: 25.072.935 đồng; nợ lãi quá hạn: 474.266.366 đồng. Tổng cộng: 1.982.346.297 đồng.

Đối với Thẻ tín dụng Hợp đồng số 379-P-1758160 ngày 16/12/2020: Nợ gốc: 49.284.706 đồng; nợ lãi quá hạn: 52.813.029 đồng. Tổng cộng: 102.097.735 đồng.

[1.2] Ghi nhận sự tự nguyện của Ngân hàng TMCP V (V1) về việc tự nguyện không yêu cầu anh T phải trả số tiền phạt chậm trả lãi là: 51.432.956 (năm mươi mốt triệu, bốn trăm ba mươi hai nghìn, chín trăm năm mươi sáu) đồng.

[1.3] Buộc anh Nguyễn Quang T phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP V (V1) các khoản lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số LN2012043103327 ký ngày 09/12/2020 và Hợp đồng số 379-P-1758160 ngày 16/12/2020 kể từ ngày 23/5/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[1.4] Kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật nếu anh Nguyễn Quang T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP V (V1) có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án kê biên và phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là:

Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 80-2 tờ bản đồ số 54 tại địa chỉ: Số A tổ K (nay là tổ A), thị trấn Đ, huyện Đ, Thành phố Hà Nội. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CR 914174, số vào sổ cấp GCN: CS-ĐA 34100 do Sở T cấp ngày 11/07/2019. Ngày 15/12/2020, tại Sở Tài Nguyên và Môi Trường thành phố H- Văn Phòng C4 đã đăng ký sang tên cho ông Nguyễn Quang T với diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giới hạn bởi các điểm 1-2-3-4-1 (có sơ đồ kèm theo).

Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm được thực hiện nghĩa vụ trả nợ của anh Nguyễn Quang T đối với Ngân hàng TMCP V (V1). Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP V (V1) thì anh Nguyễn Quang Trọng T phải tiếp tục chịu trách nhiệm trả số nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP V (V1).

Trường hợp, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay.

[2] Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đức C.

[3]. Về án phí:

Ngân hàng TMCP V (V1) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại Ngân hàng TMCP V (V1) số tiền tạm ứng án phí 31.186.510 (ba mươi mốt triệu, một trăm tám mươi sáu nghìn, năm trăm mười) đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0005802 ngày 03/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn.

Anh Nguyễn Quang T phải chịu số tiền 73.688.000 (bảy mươi ba triệu, sáu trăm tám mươi tám nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Nguyễn Đức C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 600.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0006336 ngày 05/9/2023; Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0006336 ngày 05/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn.

Bà Nguyễn Thị X phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm; được đối trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí số 0060551 ngày 18 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày Tòa tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKS NDTP Hà Nội;
  • - TAND huyện Sóc Sơn;
  • - Chi cục THA DS huyện Sóc Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thu Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 718/2024/DS-PT ngày 10/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 718/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger