| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 717/2024/DS-ST
Ngày: 20/9/2024
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Xuân Thảo
- Bà Nguyễn Thị Thu Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 326/2024/TLST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 715/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 366/2024/QĐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Trụ sở: 266- B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Nhật Kinh K, sinh năm 1987; Địa chỉ liên hệ: B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Giấy ủy quyền số 2860/2024/UQ-TGĐ ngày 03/5/2024). Có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Đinh Thị Mỹ L, sinh năm 1989; Địa chỉ: 1 P, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và các bản tự khai của ông Nguyễn Nhật K1 K là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
1. Ngày 23/9/2019, bà Đinh Thị Mỹ L (gọi tắt là bà L) có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản
và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng- các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà L, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng JCB JSpeedy Cre Gold 356481 - 4927 với hạn mức sử dụng là 42.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất trong hạn: 2.6%/tháng; lãi suất quá hạn: 3.9%/tháng (2.6% x 150%).
Quá trình sử dụng thẻ tín dụng JCB JSpeedy Cre Gold 356481 – 4927, bà L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 400,268,391 đồng, đã thanh toán 371,881,076 đồng. Sau thời gian sử dụng, bà L không có thiện chí trả nợ. Do bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 23/3/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà L chuyển toàn bộ dư nợ gốc còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 20/9/2024, thẻ tín dụng JCB JSpeedy Cre Gold 356481 - 4927 của bà L còn nợ tổng số tiền 73.309.323 đồng cụ thể như sau:
- - Dư nợ gốc: 34.355.735 đồng
- - Lãi quá hạn: 40.776.406 đồng
- - Tổng cộng: 75.132.141 đồng
2. Ngoài ra, ngày 16/10/2021, bà L thực hiện đăng ký vay tiêu dùng trên ứng dụng S1 (viết tắt là S1) với số tiền giải ngân là 9.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, thỏa thuận lãi suất trong hạn là 1.38%/tháng, lãi suất quá hạn là 2.08%/tháng (1.38% x 150%). Từ ngày giải ngân số tiền 9.000.000 đồng đến nay bà L đã đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 1.067.500 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà L vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 3 của Bản Điều khoản và Điều kiện vay tiêu dùng trên ứng dụng S1) nên ngày 26/3/2022 Ngân hàng đã chấm dứt và chuyển toàn bộ dư nợ gốc sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 20/9/2024, khoản vay S1 3317717506 của bà L còn nợ tổng số tiền 13.979.260 đồng, cụ thể như sau:
- - Dư nợ gốc: 8.577.500 đồng
- - Lãi quá hạn: 5.401.760 đồng
- - Tổng cộng: 13.979.260 đồng
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà L có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên bà L vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, Ngân hàng khởi kiện bà L tại Tòa án, đề nghị Tòa án giải quyết:
- Buộc Bà Đinh Thị Mỹ L phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/9/2019 và thẻ S1 3317717506 ngày 16/10/2021 tính đến ngày 20/9/2024 tổng cộng là 89,111,401 đồng (trong đó: Nợ gốc: 42.933.235 đồng; lãi quá hạn: 46.178.166 đồng
Ngoài ra, bà Đinh Thị Mỹ L có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 21/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/9/2019 và thẻ S1 3317717506 ngày 16/10/2021.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Tân Bình đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập đương sự để bà L đến Tòa trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn vào lúc 14 giờ ngày 26/7/2024 nhưng bà L vắng mặt không lý do. Ngày 12/8/2024, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà L cũng vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn là ông Nguyễn Nhật Kinh K trình bày vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện, do Bị đơn bà L không có thiện chí trả nợ và không đến Tòa làm việc, không có thiện chí hòa giải về tranh chấp nên đề nghị Tòa án không tiếp tục hòa giải, và đề nghị sớm đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, Tòa án tiến hành tống đạt Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và Quyết định xét xử số 715/2024/QĐXXST-DS mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án lần thứ nhất vào lúc 08 giờ ngày 30 tháng 8 năm 2024 nhưng Bị đơn vắng mặt không lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Để tạo điều kiện cho Bị đơn đến Tòa án trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa lần thứ nhất.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Nhật Kinh K có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi bản tự khai, tóm tắt sao kê trình bày Nguyên đơn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện:
- Buộc Bà Đinh Thị Mỹ L phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/9/2019 và S1 3317717506 ngày 16/10/2021 tính đến ngày 20/9/2024 tổng cộng là 89,111,401 đồng (trong đó: Nợ gốc: 42.933.235 đồng; lãi quá hạn: 46.178.166 đồng. Ngoài ra, bà Đinh Thị Mỹ L có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 21/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/9/2019 và thẻ S1 Pay số thẻ 3317717506 ngày 16/10/2021. Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- - Bị đơn bà Đinh Thị Mỹ L vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về việc thực hiện thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quá trình diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có đơn yêu cầu bà Đinh Thị Mỹ L trả tiền vay từ hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với mục đích tiêu dùng cá nhân còn thiếu, đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền: Tại Kết quả trả lời xác minh của Công an P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện: “Công dân Đinh Thị Mỹ L có đăng ký thường trú tại A P, Phường B, quận T, nơi ở hiện tại: 1 P, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh”. Và Kết quả trả lời xác minh của Công an P1, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện: “Bà Đinh Thị Mỹ L, sinh năm 1989 hiện tạm trú tại 1 P, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Về người tham gia tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng vắng mặt (Lần thứ nhất vào ngày 30 tháng 8 năm 2024, lần thứ hai ngày 20 tháng 9 năm 2024), nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Xét Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ gốc 42.933.235 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ lời trình bày của Nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện Nguyên đơn và Bị đơn có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/9/2019 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Theo đó, Nguyên đơn đã đồng ý cấp thẻ tín dụng JCB JSpeedy Cre Gold 356481 - 4927 với hạn mức sử dụng là 42.000.000 đồng. Ngoài ra, ngày 16/10/2021, Bị đơn thực hiện đăng ký vay tiêu dùng trên ứng dụng S1 (thẻ S1 số 3317717506) với số tiền giải ngân là 9.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Theo bảng tóm tắt sao kê nợ chưa thanh toán của khách hàng Đinh Thị Mỹ L thì tính đến ngày 20/9/2024, Bị đơn chưa thanh toán nợ gốc là 42.933.235 đồng. Do Bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/9/2019 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã ký nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc Bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc 42.933.235 đồng là phù hợp khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Xét yêu cầu bị đơn trả tiền lãi quá hạn:
Căn cứ vào Bảng tóm tắt sao kê của bà L, đối với số tiền vốn 42.933.235 đồng, lãi quá hạn tính đến ngày 20/9/2024 là 46.178.166 đồng (Đối với thẻ tín dụng JCB JSpeedy Cre Gold: mức lãi suất là 2,6%/tháng, mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tương đương 3,9%/tháng và đối với khoản vay tiêu
dùng trên ứng dụng S1: mức lãi suất là 1,38%/tháng, mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tương đương 2,08%/tháng). Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 luật các tổ chức tín dụng quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” và Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N quy định: “Tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng”. Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 22 của quyết định số 04/VBHN-NHNN của Ngân hàng N ban hành ngày 24/4/2014 đã quy định nghĩa vụ của chủ thẻ như sau: “Thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho Tổ chức phát hành thẻ các khoản phí, tiền vay và lãi phát sinh từ việc sử dụng thẻ theo đúng thỏa thuận tại hợp đồng sử dụng thẻ”.
Từ những quy định nêu trên thì việc thỏa thuận lãi quá hạn giữa Nguyên đơn và Bị đơn là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật. Do đó Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn trả tiền lãi quá hạn tính đến ngày 20 tháng 9 năm 2024 là 46.178.166 đồng và tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh từ ngày 21 tháng 9 năm 2024 cho đến khi trả dứt nợ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về thời hạn thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn phải thanh toán ngay một lần số nợ trên. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ ngày 23/3/2022, Bị đơn đã không tiếp tục thanh toán cho Nguyên đơn như thỏa thuận trong Hợp đồng hai bên đã ký, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn. Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn phải thanh toán ngay một lần khoản nợ trên là không trái quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên toàn bộ yêu cầu của Nguyên đơn mà được Tòa án chấp nhận là 4.455.570 đồng. H lại Nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.712.950 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Buộc bà Đinh Thị Mỹ L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền vốn và lãi tính đến ngày 20 tháng 9 năm 2024 là 89.111.401 đồng (gồm nợ gốc: 42.933.235 đồng và lãi quá hạn: 46.178.166 đồng).
Bà Đinh Thị M Liên tiếp tục trả tiền lãi phát sinh tính từ ngày 21 tháng 9 năm 2024 cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S theo mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/9/2019 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; Bản Điều kiện và điều khoản đăng ký vay tiêu dùng trên ứng dụng S1 cho đến khi thanh toán dứt nợ.
Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại cơ quan có thẩm quyền thi hành án dân sự.
2. Về án phí:
Bà Đinh Thị Mỹ L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.455.570 (bốn triệu bốn trăm năm mươi lăm nghìn năm trăm bảy mươi) đồng.
Hoàn lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.712.950 (một triệu bảy trăm mười hai nghìn chín trăm năm mươi) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001818 ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên Tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Long |
Bản án số 717/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 717/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP HĐ VAY TÀI SẢN
