Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 717/2024/DS-PT

Ngày: 20-8-2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy

Các Thẩm phán:

  1. Bà Phạm Thị Thảo
  2. Bà Mai Thị Mỹ Tiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Phòng xử án dân sự Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 527/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”,

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 133/2024/DS-ST ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 3759/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10973/2024/QĐ-PT ngày 29/7/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hà Thúy H, sinh năm 1959. Địa chỉ: Số B, Chung cư N, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Bị đơn:

  1. Bà Phạm Thị Khánh C (có mặt)
  2. Ông Phạm Quốc H1 (có mặt)

Cùng địa chỉ thường trú: Số B, Lô K Chung cư N, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người kháng cáo: Ông Phạm Quốc H1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05/01/2024 và bản tự khai nguyên đơn bà Hà Thúy H trình bày:

Ngày 01/11/2010, bà H có cho ông Phạm Quốc H1 và bà Phạm Thị Khánh C vay số tiền 165.000.000 đồng và ngày 10/12/2014 tiếp tục cho vay thêm 230.000.000 đồng, tổng cộng hai khoản vay là 395.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận trả số tiền trên trong thời gian 06 tháng và lãi suất ngân hàng 1%/tháng. Sau khi mượn từ ngày 10/12/2014 cho đến nay ông H1, bà C không hoàn trả gốc và lãi nên bà H khởi kiện yêu cầu ông H1, bà C trả cho bà số nợ gốc là 395.000.000 đồng và tiền chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định pháp luật.

Tại bản tự khai ngày 10/4/2024, bị đơn ông Phạm Quốc H1 và bà Phạm Thị Khánh C cùng xác định: Ông H1, bà C có vay của bà H số tiền trên để đáo hạn ngân hàng. Quá trình vay mượn có trả lãi đầy đủ nhưng sau đó hai bên lại ra công chứng làm hợp đồng giả cách mua bán nhà đảm bảo khoản vay trên và vụ án đã được Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết. Do đó, ông bà không còn nợ gì của bà H và không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.

Tại phiên tòa sơ thẩm các đương sự có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Tại Bản án sơ thẩm số: 133/2024/DS-ST ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên:

Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

[1] Buộc ông Phạm Quốc H1 và bà Phạm Thị Khánh C thanh toán cho bà Hà Thúy H số tiền 395.000.000 (ba trăm chín mươi lăm triệu) đồng theo giấy vay tiền ngày 10/12/2014.

[2] Buộc ông Phạm Quốc H1 và bà Phạm Thị Khánh C phải trả tiền chậm thực hiện nghĩa vụ là 318.666.250 (ba trăm mười tám triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi) đồng.

Tổng cộng là 713.666.250 (bảy trăm mười ba triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi) đồng.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành chưa thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất 9%/năm, tương ứng với thời gian chưa thi hành án

[3] Án phí dân sự sơ thẩm là 32.546.650 (ba mươi hai triệu năm trăm bốn mươi sáu nghìn sáu trăm năm mươi) đồng, ông Phạm Quốc H1 và bà Phạm Thị Khánh C chịu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Ngoài bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của đương sự

Ngày 12/6/2024, bị đơn ông Phạm Quốc H1 có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 133/2024/DS-ST ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu hủy bản án với lý do ông H1 cho rằng số tiền vay theo giấy nợ ngày 10/12/2014 đã được giải quyết xong.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn ông Phạm Quốc H1 yêu cầu sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do số tiền mà nguyên đơn yêu cầu trong vụ án này đã được giải quyết xong và ông đã giao nhà theo Bản án dân sự phúc thẩm số: 185/2019/DS-PT ngày 18/3/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyên đơn bà Hà Thúy H đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phạm Quốc H1, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 10.

Bị đơn bà Phạm Thị Khánh C có cùng ý kiến với ông H1

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Về nội dung: Xét thấy nội dung kháng cáo của bị đơn ông Phạm Quốc H1 không có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Phạm Quốc H1 còn trong thời hạn kháng cáo theo qui định tại Điều 273 và Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên kháng cáo hợp lệ và được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông Phạm Quốc H1 yêu cầu sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do số tiền mà nguyên đơn yêu cầu trong vụ án này đã được giải quyết xong và ông đã giao nhà theo Bản án dân sự phúc thẩm số: 185/2019/DS-PT ngày 18/3/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm ông Phạm Quốc H1, bà Phạm Thị Khánh C đều thừa nhận có vay của bà Hà Thúy H số tiền 395.000.000 đồng. Ông H1 và bà C cho rằng ông bà vay tiền của bà H để đáo nợ ngân hàng nhưng sau đó ngân hàng không cho vay lại nên bà H kêu ông ký hợp đồng mua bán nhà giả cách để đảm bảo khoản vay và ông trả lãi đầy đủ với lãi suất 5%/tháng nhưng sau đó bà H đã bán căn nhà cho người khác, vụ việc đã được giải quyết xong và ông đã giao nhà theo Bản án dân sự phúc thẩm số: 185/2019/DS-PT ngày 18/3/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nên ông bà đã thực hiện xong nghĩa vụ với bà H.

Xét, tại mục [5] của Bản án sơ thẩm đã nhận định rõ về nội dung của Bản án dân sự phúc thẩm số: 185/2019/DS-PT ngày 18/3/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, ngoài ra trong vụ án mà bị đơn nêu ra chỉ giải quyết quan hệ pháp luật tranh chấp đòi nhà, đất giữa ông Lê Văn N và bà Trần Thị Thanh T, không có nội dung nào giải quyết yêu cầu của các đương sự liên quan đến khoản tiền vay 395.000.000 đồng mà bà Hà Thúy H yêu cầu trong vụ án này.

Ngoài Bản án dân sự phúc thẩm số: 185/2019/DS-PT ngày 18/3/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thì ông H1, bà C không cung cấp được chứng cứ gì khác để chứng minh số tiền 395.000.000 đồng đã được ông H1, bà C thanh toán cho nguyên đơn đầy đủ cả gốc và lãi theo thỏa thuận hoặc đã được giải quyết xong.

Bà H xác định ông H1 và bà C chưa trả cho bà bất kỳ khoản tiền nào gồm cả gốc, lãi và yêu cầu Tòa án buộc ông H1, bà C trả lại tiền cho bà, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà H là đúng theo quy định tại Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005. Bà H không yêu cầu bị đơn trả lãi mà chỉ yêu cầu tiền chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định pháp luật là có lợi cho bị đơn. Tòa cấp sơ thẩm tính lãi đối với số tiền bị đơn chậm trả như mục [6] của Bản án sơ thẩm là đúng theo quy định tại Khoản 2 Điều 305 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm phía nguyên đơn chỉ yêu cầu buộc bị đơn phải trả số tiền nợ gốc, không yêu cầu bị đơn phải trả số tiền chậm thực hiện nghĩa vụ. Xét sự tự nguyện này là có lợi cho bị đơn nên ghi nhận do đó cần phải sửa lại bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 10 cho phù hợp.

[3]. Án phí dân sự phúc thẩm:

Do sửa án sơ thẩm nên bị đơn ông Phạm Quốc H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định. H2 lại ông H1 số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 38, Điều 148, khoản 1 Điều 228, Điều 298, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phạm Quốc H1 yêu cầu hủy bản án sơ thẩm.
  2. Sửa Bản án sơ thẩm số: 133/2024/DS-ST ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
    1. Buộc ông Phạm Quốc H1 và bà Phạm Thị Khánh C thanh toán cho bà Hà Thúy H số tiền 395.000.000 (ba trăm chín mươi lăm triệu) đồng theo giấy vay tiền ngày 10/12/2014.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Hà Thúy H không yêu cầu buộc ông Phạm Quốc H1 và bà Phạm Thị Khánh C phải trả số tiền chậm thực hiện nghĩa vụ là 318.666.250 (ba trăm mười tám triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi) đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    1. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Quốc H1 và bà Phạm Thị Khánh C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 19.750.000 đồng (mười chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Án phí dân sự phúc thẩm:

Ông Phạm Quốc H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả ông H1 số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0020376 (ký hiệu: BLTU/23P) ngày 12/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh lập.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại TP. HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Cục THADS Tp.HCM;
  • - TAND Quận 10;
  • - Chi cục THADS Quận 10;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 717/2024/DS-PT ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 717/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger