|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 716/2023/HS-ST.
Ngày 26 - 12 - 2023.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAΙ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Chi.
Ông Huỳnh Phi Hổ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 775/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 750/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo: Vũ Văn Q, sinh năm 1980, tại Thái Nguyên (có mặt); Nơi thường trú: Xóm N, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nơi cư trú: Thuê trọ tại khu phố V, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam, con ông Vũ Văn M, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1953; vợ Lê Thị H, sinh năm 1983; có 02 con sinh năm 2010 và sinh năm 2016.
Tiền án: Ngày 25/4/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số: 225/2011/HSST, đã chấp hành xong án phạt tù và được trả tự do ngày 02/11/2014, đã đóng án phí, chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự, (chưa được xóa án tích).
Ngày 23/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số: 13/2021/HS-ST (chưa được xóa án tích).
Tiền sự: không.
Bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 16/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 11 giờ 45 phút ngày 16/8/2023, Vũ Văn Q, sinh năm 1980, HKTT: Xóm N, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên điều khiển xe mô tô biển số 72K4-7661 đi một mình từ nhà trọ tại khu phố V, phường P, thành phố B đến khu vực phố đi bộ thuộc Quận A, thành phố Hồ Chí Minh, gặp người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) mua 01 gói nylon chứa 5,0505gam Heroine với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) và được người đàn ông này cho thêm 02 gói nylon chứa 0,0514gam Methamphetamine. Sau đó Q cất giấu toàn bộ số ma túy trên vào túi quần đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về B tìm nơi để sử dụng. Khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, khi Q đang điều khiển xe mô tô đi đến khu vực tổ A, khu phố V, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an kiểm tra, bắt quả tang Q cùng số ma túy đang cất giữ.
Quá trình điều tra, Q khai nhận mục đích mua, cất giữ số ma túy trên là để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích nào khác.
Vật chứng thu giữ:
- 01 gói nylon màu trắng bên trong chứa 01 cục chất rắn màu trắng (Q khai là ma túy Heroin) thu giữ trong túi quần bên phải của Q.
- 01 gói nylon màu trắng bên trong có chứa 02 gói nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng (Quyền khai là ma túy hàng đá), 01 cục chất rắn màu trắng (Quyền khai là ma túy Heroine) thu giữ trong túi quần bên phải của Q.
- 01 điện thoại di động Nokia màu đỏ số Sim 0326870334, số M: TA-1235, điện thoại đã qua sử dụng.
- 01 xe mô tô biển số 72K4-7661, số máy: VDEJQ152FMH, số khung: RPEWCHIPE9A034631.
Tại Kết luận giám định số: 1824/KL-KTHS ngày 22/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận:
- Mẫu chất rắn màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có tổng khối lượng 5,0505gam (Năm phẩy không năm không năm gam), loại: Heroin.
- Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiện M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,0514gam (Không phẩy không năm một bốn gam), loại: Methamphetamine.
Bản cáo trạng số: 750/CT-VKS-BH ngày 29/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Vũ Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Vũ Văn Q từ 06 (Sáu) năm tù đến 07 (Bảy) năm tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Trả lại 01 điện thoại di động Nokia màu đỏ số Sim 0326870334, số M: TA-1235, điện thoại đã qua sử dụng cho Vũ Văn Q.
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ sau giám định.
- Tịch thu 01 xe mô tô biển số 72K4-7661, số máy: VDEJQ152FMH, số khung: RPEWCHIPE9A034631 của Vũ Văn Q.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 15 giờ 10 phút ngày 16/8/2023, tại khu phố V, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Vũ Văn Q đã có hành vi cất giấu 5,0505gam Heroine và 0,0514gam Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân, trong lúc đang chạy xe đi tìm địa điểm để sử dụng ma túy thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số: 1824/KL-KTHS ngày 22/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận:
- Mẫu chất rắn màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có tổng khối lượng 5,0505gam (Năm phẩy không năm không năm gam), loại: Heroin.
- Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiện M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,0514gam (Không phẩy không năm một bốn gam), loại: Methamphetamine.
Hành vi của bị cáo Vũ Văn Q đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và là một trong những nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm cũng như các tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo biết rõ việc tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy pháp luật nghiêm cấm, nhưng để có ma túy sử dụng, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật. Nên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.
Bị cáo có 02 tiền án:
- Ngày 25/4/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số: 225/2011/HSST, đã chấp hành xong án phạt tù và được trả tự do ngày 02/11/2014, đã đóng án phí, chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự, (chưa được xóa án tích).
- Ngày 23/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số: 13/2021/HS-ST (chưa được xóa án tích).
[3] Về tình tiết tăng nặng: không.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Trả lại 01 điện thoại di động Nokia màu đỏ số Model: TA-1235, điện thoại đã qua sử dụng cho bị cáo Vũ Văn Q.
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số: 1824/KL-KTHS ngày 22/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 72K4-7661, số máy: VDEJQ152FMH, số khung: RPEWCHIPE9A034631 của bị cáo Vũ Văn Q.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).
[6] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Vũ Văn Q, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra đã có văn bản thông báo đến cơ quan Cơ quan điều tra Công an quận A, thành phố Hồ Chí Minh để tiến hành điều tra xử lý theo thẩm quyền.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Vũ Văn Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điểm n, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn Q 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/8/2023.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Trả lại 01 điện thoại di động Nokia màu đỏ số Model: TA-1235, điện thoại đã qua sử dụng cho bị cáo Vũ Văn Q.
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số: 1824/KL-KTHS ngày 22/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 72K4-7661, số máy: VDEJQ152FMH, số khung: RPEWCHIPE9A034631 của bị cáo Vũ Văn Q.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Dung |
Bản án số 716/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 716/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn Quyền
