|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 716/2024/DS-PT Ngày: 06 - 9 - 2024 V/v “Tranh chấp đất đai; yêu cầu tháo dỡ, di dời tài sản trên đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Minh |
| Các thẩm phán: | Ông Phan Nhựt Bình |
| Bà Hồ Thị Thanh Thúy |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 188/2024/TLPT-DS ngày 14 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp đất đai; yêu cầu tháo dỡ, di dời tài sản trên đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 52/2023/DS –ST ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1029/2024/ QĐPT-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Mai Anh T, sinh năm 1966 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Số B đường Đ, khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- - Bị đơn: Ông Chế Minh Q, sinh năm 1981 (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị Minh N, sinh năm 1985 (vắng mặt)
- Cùng địa chỉ: Khu phố C, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn L, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số B đường V, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. (có mặt)
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1. Bà Lưu Thị T1, sinh năm 1970 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số B đường Đ, khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
2. Ủy ban nhân dân thành phố Phan Thiết
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Nguyễn Hoàng T2 – Chủ tịch. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người kháng cáo: Bị đơn – ông Chế Minh Q
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:
Sau khi mua lại căn nhà số A đường Đ, khu phố I, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, vợ chồng ông Chế Minh Q, bà Phạm Thị Minh N tiến hành sửa chữa nhà và đã lấn chiếm qua phần đất của gia đình ông đã được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 606470 ngày 26/9/2013, cụ thể: Vợ chồng ông Q, bà N tráng nền xi măng, lắp ống thoát nước mưa và ống nước ngầm xả trực tiếp lên phần đất nhà ông. Ông đã trình báo sự việc lên Ủy ban nhân dân phường P hoà giải nhưng không thành.
Do đó, ông làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc vợ chồng ông Chế Minh Q, bà Phạm Thị Minh N trả lại cho gia đình ông 3,6m² đất và tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản trên diện tích đất này.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Chế Minh Q và bà Phạm Thị Minh N, do người đại diện theo ủy quyền là ông Lê Văn L có đơn phản tố đề ngày 02/8/2019 trình bày:
Việc Ủy ban nhân dân thành phố P đăng ký biến động và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 606470 ngày 26/9/2013 cho vợ chồng ông Mai Anh T, bà Lưu Thị T1 là trái quy định của pháp luật. Vì:
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 606470 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 26/9/2013 cho vợ chồng ông Mai Anh T, bà Lưu Thị T1, trong khi trước đó ngày 17/5/2012, chủ nhà cũ là bà Võ Thị H đã có đơn khiếu nại về việc ông Mai A Tiếu lấn chiếm 3,6m² đất giữa hai nhà, diện tích đất tranh chấp 3,6m² đã được bà H sử dụng để làm công trình phụ gồm ống thoát nước, cột điện, bờ rào và phần trên không là cửa sổ mở ra có đúc đan che mưa.
- - Biên bản làm việc ngày 29/5/2012 của Ủy ban nhân dân phường P (theo đơn khiếu nại ngày 17/5/2012 của bà Võ Thị H) xác định:
- + Phần đất còn lại giữa 02 nhà 18 và 20 Đặng Thị N1 là phần đất do Nhà nước quản lý.
- + 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 01 Giấy chứng nhận số 460104 ngày 14/10/2003 do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp cho bà Võ Thị H và 01 Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 594933 ngày 22/02/2006 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp cho ông Nguyễn Văn G, bà Tô Thị Thanh H1 qua kiểm tra, đo đạc thực tế 02 hộ sử dụng đúng với Giấy chứng nhận được cấp.
Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định việc hai gia đình bà Võ Thị H và ông Nguyễn Văn G sử dụng đất ổn định, đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần diện tích đất giữa 02 nhà là phần đất thuộc quản lý của Nhà nước, không phải của bên nào, chủ nhà cũ là bà Võ Thị H đã sử dụng phần đất hành lang giữa 02 nhà từ năm 1999 để làm các công trình phụ, thiết yếu cho đến nay.
Nếu ông Mai Anh T cho rằng diện tích đất tranh chấp nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 606470 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 26/9/2013 cho vợ chồng ông Mai Anh T, bà Lưu Thị T1 nên bị đơn lấn chiếm thì Giấy chứng nhận này đã cấp không đúng quy định của pháp luật.
Do đó, bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và có đơn phản tố yêu cầu Toà án giải quyết huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 606470 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 26/9/2013 cho vợ chồng ông Mai Anh T, bà Lưu Thị Thỏa .
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lưu Thị T1 trình bày: Bà thống nhất với ý kiến trình bày và yêu cầu khởi kiện của chồng bà là ông Mai Anh T, đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Anh T.
- Ủy ban nhân dân thành phố P: Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân thành phố P không có ý kiến gì liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng như yêu cầu phản tố của bị đơn; không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; Đồng thời có văn bản đề nghị xét xử vụ án vắng mặt.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 52/2023/DS –ST ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã quyết định:
Căn cứ vào: Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, điểm a và đ khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 và khoản 7 Điều 166, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 175, khoản 1 Điều 176 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 18, khoản 2 và khoản 5 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Anh T:
- Buộc ông Chế Minh Q, bà Phạm Thị Minh N trả lại cho ông Mai Anh T, bà Lưu Thị T1 2,7m² đất thuộc thửa đất số 132, tờ bản đồ số 49 theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 606470 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp cho ông Mai Anh T, bà Lưu Thị T1 ngày 26/9/2013.
- Buộc ông Chế Minh Q, bà Phạm Thị Minh N tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản, công trình của ông Q, bà N trên diện tích 2,7m² đất được xác định tại mục 1.1 nêu trên.
Diện tích 2,7m² đất nêu trên được giới hạn bởi các mốc toạ độ 8-9-10-11 theo Sơ đồ vị trí thửa đất tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng Đ vẽ và duyệt ngày 21/02/2023 (đính kèm).
- Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Chế Minh Q, bà Phạm Thị Minh N do ông Lê Văn L đại diện theo uỷ quyền, về việc yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 606470 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp cho ông Mai Anh T, bà Lưu Thị T1 ngày 26/9/2013
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự
Ngày 12/12/2023, bị đơn ông Chế Minh Q có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số BO 606470 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 26/9/2013.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông Lê Văn L đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Chế Minh Q và bà Phạm Thị Minh N trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:
- - Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đảm bảo cho các đương sự có các quyền và nghĩa vụ theo quy định; gửi các Quyết định, Thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự đầy đủ, đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đúng thành phần, phiên tòa diễn ra theo đúng trình tự và quy định của pháp luật.
- - Về nội dung: Bản án sơ thẩm tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo ủy quyền của bị đơn kháng cáo không cấp được chứng cứ nào mới do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Vào ngày 13/5/2013, vợ chồng ông Mai Anh T, bà Lưu Thị T1 nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Nguyễn Văn G, bà Tô Thị Thanh H1 thửa đất số 132, tờ bản đồ số 36, diện tích 111,7m² đất ở tại đô thị theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 594933 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 22/02/2006; tứ cạnh của thửa đất có độ dài lần lượt là 6,96m; 18,61m; 6,8m và 19m.
Sau đó, vợ chồng ông T, bà T1 làm thủ tục và được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 606470 ngày 26/9/2013 thửa đất số 132, tờ bản đồ số 49, diện tích 129,1m² đất ở tại đô thị (tăng 17,4m²); tứ cạnh của thửa đất không thay đổi, vẫn có độ dài lần lượt là 6,96m; 18,61m; 6,8m và 19m. Lý do diện tích tăng so với Giấy chứng nhận cũ được xác định là do tính toán nhầm của cơ quan Nhà nước.
- Đối với thửa đất số 368, tờ bản đồ số 49 thì vào ngày 14/10/2003, Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 460104 cho vợ chồng ông Đàm Quang H2, bà Võ Thị H với diện tích đất ở là 100m². Sau khi ông H2 chết, bà H làm thủ tục nhận thừa kế của ông H2 và được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 630715 ngày 29/7/2013 thửa đất số 368, tờ bản đồ số 49, diện tích 100m² đất ở tại đô thị. Sau đó bà H chuyển nhượng thửa đất cho vợ chồng ông Chế Minh Q, bà Phạm Thị Minh N.
Ông Q, bà N trình bày phần đất có diện tích 2,7m² mà nguyên đơn đang tranh chấp là đất công, do Nhà nước quản lý, đã được bà H sử dụng để làm công trình phụ và hiện nay do ông Q, bà N sử dụng. Căn cứ mà ông Q, bà N đưa ra là Biên bản làm việc ngày 29/5/2012 do Tổ viên Tổ Quản lý trật tự đô thị phường P lập khi giải quyết tranh chấp đất giữa bà H và gia đình ông T, bà T1. Tại biên bản làm việc này có nội dung: “……….phần đất còn lại giữa hai nhà bà H và nhà ông T, bà T1 là phần đất do Nhà nước quản lý; qua kiểm tra, đo đạc thực tế hai hộ sử dụng đúng với Giấy chứng nhận được cấp...”.
- Hội đồng xét xử nhận thấy, theo Công văn số 2465/UBND-NC ngày 13/10/2023 của Ủy ban nhân dân phường P gửi cho Tòa án thì Ủy ban nhân dân phường P đã xác định: “Tại thời điểm đo đạc, hai thành viên Tổ Quản lý trật tự đô thị phường là nhân viên hợp đồng của UBND phường, chỉ hỗ trợ cho công chức địa chính – xây dựng trong quá trình giải quyết đơn khiếu nại của bà Võ Thị H, nên nội dung thể hiện trong biên bản chưa phù hợp với chức năng, nhiệm vụ theo quy định. Vì vậy, UBND phường đề nghị Toà án không căn cứ vào Biên bản làm việc ngày 29/5/2012 do Tổ viên Tổ Quản lý trật tự đô thị phường lập trong quá trình giải quyết vụ kiện”. Như vậy, nội dung trong Biên bản làm việc ngày 29/5/2012 không được xem là căn cứ để giải quyết vụ án.
Ngoài ra, tại thời điểm bà H làm thủ tục cấp mới giấy chứng nhận đối với thửa đất số 368 thì bà H đã ký xác nhận vào Biên bản đo đạc địa chính ngày 21/6/2013 do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất lập. Theo biên bản đo đạc
thì cạnh phía Nam của thửa đất số 368 là đoạn thẳng giáp với thửa đất số 132 của ông Nguyễn Văn G, không có đoạn nào của cạnh phía Nam giáp với đất công như phía ông Q, bà N trình bày. Điều này hoàn toàn phù hợp với Bản đồ 60/CP (tờ số C) và nay là Bản đồ 920 (tờ số 49) do Ủy ban nhân dân phường P lưu giữ và cung cấp cho Tòa án.
Theo Sơ đồ vị trí thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Phan Thiết đo vẽ và duyệt ngày 21/02/2023 thì phần đất đang tranh chấp có diện tích 2,7m2, được giới hạn bởi các mốc toạ độ 8-9-10-11, nằm hoàn toàn trong thửa đất số 132, tờ bản đồ số 49 đã được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 606470 ngày 26/9/2013 cho ông T, bà T1. Phần đất này vợ chồng ông Q, bà N đã tráng xi măng và có các tài sản của vợ chồng ông Q, bà N gồm: 01 tấm đan (khối bê tông dầm sàn) gắn liền với tường nhà ông Q (0,4m x 1m), 01 ống thoát nước mưa, 01 đường dây diện từ trụ vào nhà ông Q, 01 ống thoát nước máy lạnh và 01 trụ bằng gạch ống (10cm x 20cm).
Tòa án cấp sơ thẩm xác định phần đất tranh chấp có diện tích 2,7m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông T, bà T1, từ đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T buộc vợ chồng ông Q, bà N phải trả lại phần đất nêu trên đồng thời tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản trên đất là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn có đơn phản tố yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của Ủy ban nhân dân thành phố P đã cấp cho nguyên đơn, với lý do Ủy ban nhân dân thành phố P đã cấp phần diện tích đất công 2,7m² cho nguyên đơn là không đúng quy định của pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định bị đơn không có quyền yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trong trường hợp này, yêu cầu của bị đơn không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Từ đó Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố của bị đơn là hoàn toàn phù hợp với quy định tại các điểm a, đ khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
- Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Chế Minh Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 5, khoản 7 Điều 166, khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 175, khoản 1 Điều 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn – ông Chế Minh Q. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 52/2023/DS –ST ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Anh T.
- Buộc ông Chế Minh Q, bà Phạm Thị Minh N trả lại cho ông Mai Anh T, bà Lưu Thị T1 phần đất có diện tích 2,7m² thuộc thửa đất số 132, tờ bản đồ số 49 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 606470 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp cho ông Mai Anh T, bà Lưu Thị T1 ngày 26/9/2013.
- Buộc ông Chế Minh Q, bà Phạm Thị Minh N tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản, công trình của ông Q, bà N trên diện tích 2,7m² đất được xác định tại mục 1.1 nêu trên.
Diện tích 2,7m² đất nêu trên được giới hạn bởi các mốc tọa độ 8-9-10-11 theo Sơ đồ vị trí thửa đất tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Phan Thiết đo vẽ và duyệt ngày 21/02/2023.
- Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Chế Minh Q, bà Phạm Thị Minh N do ông Lê Văn L là người đại diện theo ủy quyền, về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 606470 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp cho ông Mai Anh T, bà Lưu Thị T1 ngày 26/9/2013.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc ông Chế Minh Q, bà Phạm Thị Minh N phải chịu 5.551.000 đồng (Năm triệu năm trăm năm mươi mốt nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Do ông Mai Anh T đã tạm ứng 5.551.000 đồng (Năm triệu năm trăm năm mươi mốt nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nên buộc ông Chế Minh Q, bà Phạm Thị Minh N hoàn trả lại cho ông Chế Minh Q 5.551.000 đồng (Năm triệu năm trăm năm mươi mốt nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí sơ thẩm và phúc thẩm:
- H3 lại cho ông Mai A Tiếu 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0027520 ngày 15/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.
- Buộc bị đơn ông Chế Minh Q, bà Phạm Thị Minh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận).
- H3 lại cho ông Chế Minh Q, bà Phạm Thị Minh N 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0027878 ngày 05/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết (đối với yêu cầu phản tố bị đình chỉ giải quyết).
- Ông Chế Minh Q phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000069 ngày 13/12/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Văn Minh |
Bản án số 716/2024/DS-PT ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đất đai; yêu cầu tháo dỡ, di dời tài sản trên đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 716/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai; yêu cầu tháo dỡ, di dời tài sản trên đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Mai Anh T kiện Ông Chế Minh Q về việc “Tranh chấp đất đai; yêu cầu tháo dỡ, di dời tài sản trên đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn – ông Chế Minh Q. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 52/2023/DS –ST ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận
