Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 715/2025/DS-PT

Ngày 12/12/2025

“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chế Linh

Các Thẩm phán: Ông Võ Bảo Anh

Ông Nguyễn Vĩnh Khương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 360/2025/TLPT-DS ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2025/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 696/2025/QĐ-PT ngày 22 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1962.

Địa chỉ: Khu V, phường L, thành phố Cần Thơ (địa chỉ cũ là khu vực 2, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang).

- Bị đơn: 1.Ông Trần Thanh N, sinh năm 1972.

Địa chỉ: Khu V, phường L, thành phố Cần Thơ (địa chỉ cũ khu vực A, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Thanh N: Bà Huỳnh Thị Mỷ L, sinh năm 1977; Địa chỉ: Khu V, phường L, thành phố Cần Thơ.

2.Bà Huỳnh Thị Mỷ L, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Khu V, phường L, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Huỳnh Thị Mỷ L: Ông Phạm Văn Đ1, sinh năm 1963; địa chi: 4A/1, khu vực B, phường L, thành phố Cần Thơ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân thị xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là Ủy ban nhân phường L, thành phố Cần Thơ).
  2. Địa chỉ: Khu V, phường L, thành phố Cần Thơ.

  3. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh H (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố C).

- Người kháng cáo: Ông Trần Thanh N và bà Huỳnh Thị Mỷ L là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Nguyên đơn là ông Trần Văn Đ trình bày:

Cha mẹ ông Đ là ông Trần Ngọc N1 (đã chết năm 1990) và bà Phạm Thị H (chết năm 1975), cha mẹ ông Đ có tổng cộng 8 người con gồm Nguyễn Thị Mỹ Đ2, Trần Văn N2, Trần Văn Đ, Trần Thị Mỹ Á, Trần Thị Mỹ H1, Trần Thị Bạch Y, Trần Thị Hoàng O, Trần Thanh N. Lúc sinh thời cha mẹ ông Đ có phần đất diện tích 15.775m², địa chỉ đất khu vực A, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Nguồn gốc đất của bà nội là bà Mai Thị T để lại cho cha mẹ ông Đ. Trước khi cha mẹ ông Đ chết đã phân chia quyền sử dụng đất cho các con, ông Đ được phân chia khoảng 4 công đất ruộng vào năm 1986 và ông Đ đã sử dụng phần đất này từ năm 1986 đến nay. Khi cha mẹ cho đất ông Đ, các anh em trong gia đình đều biết. Khi ông N1 và bà H chết, ông N là con trai út trong gia đình kê khai đứng tên toàn bộ phần đất nêu trên và được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các thửa 1382, 1383, 1384, 1385, 1386, 2388 cho ông Trần Thanh N vào ngày 21/8/1995. Khi ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Đ không hay biết. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông N được cấp 15.775m² thì có một phần đất bà Trần Thị Hoàng O đang canh tác, sử dụng. Phần đất ông Đ được cha mẹ cho thuộc một phần thửa 1383, 1384, hiện nay vẫn còn trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Thanh N. Ranh đất giữa các thửa có trụ đá và cọc gỗ, do ông Đ và ông N cấm để phân ranh.

Ông Đ yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận cho ông Đ phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 3768,3m² (trong đó thửa 74 diện tích 1930,8m² loại đất LUC, thửa 121 diện tích 1837,5m² loại đất BHK) thuộc tờ bản đồ số 6, địa chỉ thửa đất khu vực A, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là Khu V, phường L, thành phố Cần Thơ).

*Bị đơn là vợ chồng ông Trần Thanh N và bà Huỳnh Thị Mỷ L trình bày:

Bà L là vợ ông Trần Thanh N, bà L và ông N kết hôn năm 1997 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Cha mẹ ông N là ông Trần Ngọc N1 (đã chết năm 1990) và bà Phạm Thị H (chết năm 1975). Nguồn gốc đất là của bà nội là bà Mai Thị T (đã chết năm 1994) cho ông Trần Thanh N, việc cho đất không có giấy tờ. Ông N đi kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000114 ngày 21/8/1995 với tổng diện tích 15.775m², ông N trực tiếp canh tác đất đến năm 1996 ông N bị tai nạn giao

thông không tiếp tục canh tác đất được nên ông N cho ông Đ là anh của ông N mượn đất canh tác. Việc cho mượn đất canh tác không có làm giấy tờ gì. Ranh đất giữa hai thửa đất có trụ đá nhưng ai cấm trụ đá thì bà L không biết.

Bà L và ông N không thống nhất theo yêu cầu của ông Trần Văn Đ. Bà L và ông N có yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Văn Đ trả lại cho bà L, ông N phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 3768,3m².

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh H (nay là Sở Nông nghiệp và môi trường thành phố C) trình bày:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS03068 và CS03067 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 23/02/2023 cho ông Trần Thanh N về trình tự, thủ tục thực hiện đúng theo quy định tại Điều 76 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ; Khoản 24 Điều 1 Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ và thành phần hồ sơ theo Điều 10 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T2.

Thửa đất số 1383, tờ bản đồ số 7 theo số liệu chính quy là thửa đất số 74, tờ bản đồ số 6 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã L trích lục bản đồ địa chính và được các chủ sử dụng đất liền kề thống nhất về ranh giới thửa đất và đã ký vào bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 06/7/2022.

Thửa đất số 1384, tờ bản đồ số 7 theo số liệu chính quy là thửa đất số 121, tờ bản đồ số 6 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã L đo đạc và được các chủ sử dụng đất liền kề thống nhất về ranh giới thửa đất và đã ký vào bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 10/8/2022.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân thị xã L (nay là Ủy ban nhân dân phường L) trình bày:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000114 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 22/8/1995 công nhận cho ông Trần Thanh N là đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000114 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 22/8/1995 vào thời điểm trước năm 2014 được cấp dựa trên hệ thống bản đồ địa chính (364) được phê duyệt năm 1997 do đó khi cấp không tiến hành đo đạc thực tế nên hồ sơ thể hiện những người sử dụng đất liền kề không ký tên giáp ranh. Do bận công tác không thể tham gia xét xử vì vậy ông D làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

- Tại bản án dân sự sơ thẩm số 07/2025/DSST ngày 31 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Cần Thơ đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn Đ.
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Thanh N, bà Huỳnh Thị Mỹ L.
  3. Công nhận phần đất tranh chấp có diện tích 3768,3m², trong đó tại vị trí (IA) thửa 74 diện tích 1930,8m² loại đất LUC, tại vị trí (IB) thửa 121 diện

tích 1837,5m² loại đất BHK cho nguyên đơn ông Trần Văn Đ được tiếp tục quản lý, sử dụng, theo mảnh trích đo địa chính số 396/Công ty TNHHDVTV và ĐĐBĐ Đất Việt ngày 04/7/2024 của Công ty TNHH D1 và duyệt của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã L ngày 16/8/2024 (có mảnh trích đo địa chính kèm theo).

  1. Nguyên đơn ông Trần Văn Đ có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Kiến nghị các cơ quan chức năng có trách nhiệm điều chỉnh và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự theo đúng quy định của pháp luật.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Trần Thanh N, bà Huỳnh Thị Mỷ L phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận với số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ông Trần Thanh N, bà Huỳnh Thị Mỷ L phải chịu án phí phản tố không được chấp nhận trên giá trị tài sản tranh chấp là 31.131.760 đồng (ba mươi mốt triệu một trăm ba mươi mốt nghìn bảy trăm sáu mươi đồng). Bị đơn được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 15.565.000 đồng (mười lăm triệu năm trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) theo lai thu số 0008241, ngày 19/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 – Cần Thơ). Bị đơn ông Trần Thanh N, bà Huỳnh Thị Mỷ L còn phải nộp thêm 15.866.760 đồng (mười lăm triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn bảy trăm sáu mươi đồng).
  3. Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông Trần Thanh N, bà Huỳnh Thị Mỷ L phải chịu số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Bị đơn phải nộp số tiền trên tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 – Cần Thơ để trả lại cho nguyên đơn ông Trần Văn Đ.

Bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các bên theo luật định.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 06 tháng 8 năm 2025, bị đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đồng thời chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên kháng cáo. Các bên không thoả thuận được việc giải quyết tranh chấp.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên tòa: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, các quy định pháp luật liên quan, đại diện Viện kiểm sát cho rằng bản án sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ pháp luật. Bị đơn kháng cáo nhưng không có chứng cứ mới nên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ đã thẩm tra cho thấy, các bên tranh chấp quyền sử dụng đất. Toà án nhân dân khu vực 12 đã thụ lý là đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ tranh chấp theo quy định tại khoản 9

Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Từ các chứng cứ trong hồ sơ cho thấy nguồn gốc phần đất đang tranh chấp không phải tài sản của ông N: chính Đơn đăng ký quyền sử dụng đất năm 1994 do ông N lập đã ghi rõ “nguồn gốc: cha mẹ chết”, khẳng định đất là di sản của vợ chồng ông N1, bà H chứ không phải do bà T tặng cho riêng ông N. Đồng thời, không có tài liệu nào chứng minh việc tặng cho riêng này. Theo Điều 650 và Điều 651 Bộ luật Dân sự, toàn bộ các con của ông N1, bà H đều là đồng thừa kế và có quyền ngang nhau đối với di sản, nên việc ông N tự ý đăng ký đứng tên toàn bộ diện tích mà không có sự đồng ý của các đồng thừa kế là trái pháp luật. Hơn nữa, theo điểm đ khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai 2013, Giấy chứng nhận được cấp trên cơ sở thông tin không đúng, không đầy đủ về chủ thể có quyền là một trong những căn cứ để thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, việc ông N cho rằng phần đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của mình là không có căn cứ.

[2] Thực tế cho thấy ông Đ đã trực tiếp canh tác phần đất tranh chấp từ năm 1986, theo sự cho phép của chính cha là ông N1. Việc sử dụng này là công khai, được hàng xóm (bà T1), cán bộ ấp (ông Đ3) và các chị em ruột trong gia đình xác nhận đầy đủ. Với thời gian gần 40 năm, ông Đ canh tác liên tục, ổn định, không ai tranh chấp, phù hợp với tiêu chí “sử dụng đất ổn định” theo khoản 1 Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP. Pháp luật đất đai quy định, người sử dụng đất ổn định, công khai, ngay tình, không tranh chấp trước thời điểm Nhà nước cấp giấy chứng nhận thì được bảo vệ quyền sử dụng đất (Điều 101 Luật Đất đai 2013). Đồng thời, Bộ luật Dân sự cũng xác định người chiếm hữu tài sản một cách liên tục, công khai, ngay tình thì được pháp luật bảo vệ (Điều 236 Bộ luật dân sự năm 2015). Từ đó cho thấy, Toà án cấp sơ thẩm công nhận quyền sử dụng cho ông Đ là đúng pháp luật.

[3] Xét nội dung đơn kháng cáo của bị đơn, thấy rằng các lập luận của ông N, bà L là không phù hợp với hồ sơ vụ án và không phù hợp với pháp luật. Như nhận định trên, chính ông N trong đơn đăng ký QSDĐ năm 1994 đã khai nguồn gốc đất là “cha mẹ chết”, tức thừa nhận đây là di sản của vợ chồng ông N1, bà H, chứ không phải đất đứng tên hay thuộc quyền định đoạt riêng của bà nội như ông trình bày trong đơn kháng cáo. Việc ông N nay cho rằng đất là của bà nội là trái với lời khai trước đây của chính mình. Theo Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, người đưa ra yêu cầu phải có nghĩa vụ chứng minh, ông N không xuất trình được chứng cứ mới, nên lập luận về nguồn gốc đất không có giá trị.

[4] Từ những nhận định trên cho thấy, bản án sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ vững chắc. Kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ để chấp nhận.

[5] Theo quy định tại Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự thì bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  2. Công nhận phần đất có diện tích 3768,3m² (trong đó tại vị trí (IA) thửa 74 diện tích 1930,8m² loại đất LUC, tại vị trí (IB) thửa 121 diện tích 1837,5m² loại đất BHK) cho ông Trần Văn Đ. Ông Đ được quyền đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    Diện tích, vị trí đất được xác định theo Mảnh trích đo địa chính số 396/Công ty TNHHDVTV và ĐĐBĐ Đất Việt ngày 04/7/2024 của Công ty TNHH D1 và duyệt của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã L ngày 16/8/2024 (Đính kèm)

  3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc nguyên đơn trải lại phần đất có diện tích 3768,3m² nêu trên.
  4. Ông Trần Văn Đ có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các cơ quan chức năng có trách nhiệm điều chỉnh và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự theo đúng quy định của pháp luật.
  5. Án phí dân sự sơ thẩm:
  6. Ông Trần Thanh N và bà Huỳnh Thị Mỷ L phải chịu 31.431.760 đồng, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 15.565.000 đồng (Mười lăm triệu năm trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) theo lai thu số 0008241, ngày 19/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 – Cần Thơ), ông N và bà L còn phải nộp thêm 15.866.760 đồng (mười lăm triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn bảy trăm sáu mươi đồng).

  7. Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông Trần Thanh N, bà Huỳnh Thị Mỷ L phải chịu số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Bị đơn phải nộp số tiền trên tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 – Cần Thơ để trả lại cho nguyên đơn ông Trần Văn Đ.
  8. Về án phí dân sự phúc thẩm:
  9. Ông N phải chịu 300.000 đồng, chuyển tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo các biên lai số 0001829 ngày 06/8/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ thành án phí, coi như ông N đã nộp xong.

    Bà L phải chịu 300.000 đồng chuyển tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo các biên lai số 0001831 ngày 06/8/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ thành án phí, coi như bà L đã nộp xong.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND.TPCT;
  • - TAND khu vực 12 – Cần Thơ;
  • - THADS thành phố Cần Thơ;
  • - Phòng THADS khu vực 12 – Cần Thơ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Chế Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 715/2025/DS-PT ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 715/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ yêu cầu BĐ trả lại QSDĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger