TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 714/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 02/4/2025.
Về việc “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Đời.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Gái;
Ông Võ Văn Lợi.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Kim Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai Vụ án dân sự sơ thẩm số: 133/2025/TLST-HNGĐ ngày 23/01/2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2621/2025/QĐXXST-DS ngày 20/3/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đàm Văn D, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ A, phường Y, quần H, Thành phố Hà Nội, (xin vắng mặt).
Người đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Bảo N, sinh năm 1998. Địa chỉ: 51/36/84 D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng.
- Bị đơn: Bà Tô Thị S, sinh năm 1991. Địa chỉ: 3 Đường A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung Đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn ông Đàm Văn D trình bày: Về quan hệ hôn nhân, ông D và bà Tô Thị S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định và được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy Chứng nhận kết hôn số 30, quyển 02 ngày 15/6/2011. Sau khoảng thời gian chung sống hạnh phúc, cuộc sống vợ chồng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải hòa, hai người bất đồng quan điểm sống, sau đó hai vợ chồng sống ly thân. Ông D xác định hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Tô Thị S.
Về con chung: Ông D khai ông và bà S có 03 người con chung gồm: Đàm Thị Thảo Linh (sinh ngày 19/12/2011), Đàm Tú L (sinh ngày 06/5/2014) và Đàm Đức A (sinh ngày 11/01/2017). Ông D yêu cầu sau khi hai người ly hôn, Tòa án giao các con chung nêu trên cho bà Tô Thị S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; ông và bà S tự thỏa thuận việc cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Hai người tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Ông D trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.
Đồng thời, ông D có đơn yêu cầu không hòa giải đoàn tụ và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
- Theo nội dung bản tự khai, bị đơn bà Tô Thị S trình bày: Bà S xác nhận những lời trình bày của ông D về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng. Nay ông D yêu cầu ly hôn, bà S đồng ý ly hôn. Đồng thời, bà S cũng đồng ý yêu cầu của ông D về việc giao các con chung là Đàm Thị Thảo L1 (sinh ngày 19/12/2011), Đàm Tú L (sinh ngày 06/5/2014) và Đàm Đức A (sinh ngày 11/01/2017) cho bà là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; bà và ông D tự thỏa thuận việc cấp dưỡng cho con; bà và ông D tự thỏa thuận về tài sản chung, hai người không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Bà S cũng yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ.
- Theo nội dung bản ý kiến của con chung trên 07 tuổi – các cháu Đàm Thị Thảo L1 (sinh ngày 19/12/2011), Đàm Tú L (sinh ngày 06/5/2014) và Đàm Đức A (sinh ngày 11/01/2017) đều thống nhất trình bày: Trường hợp cha mẹ cháu không còn sống chung với nhau, các cháu đều có nguyện vọng được sống cùng mẹ - bà Tô Thị S; ngoài ra, các cháu không có ý kiến nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Xét thấy, nguyên đơn - ông Đàm Văn D khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn - bà Tô Thị S, do đó căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp “Ly hôn”. Bị đơn có địa chỉ tại thành phố T nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Xét Bản tự khai, Đ đề nghị không hòa giải đoàn tụ và đơn xin vắng mặt của đương sự đã được thực hiện theo quy định nên đây được xem là chứng cứ hợp pháp của vụ án theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Do nguyên đơn và bị đơn đều có đề nghị vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết, yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về quan hệ hôn nhân: Qua lời trình bày của hai bên và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định nguyên đơn và bị đơn có thời gian sống chung với nhau như vợ chồng, sau đó có tiến hành kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định, được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy Chứng nhận kết hôn số 30, quyển 02 ngày 15/6/2011. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Sau thời gian chung sống, hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải hòa, nguyên đơn và bị đơn đã sống ly thân nên tình cảm vợ chồng càng phai nhạt, không có sự gắn kết. Do hai bên hoàn toàn không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn là có cơ sở. Mặt khác, tại bản tự khai bị đơn cũng xác định không còn tình cảm và đồng ý ly hôn với nguyên đơn, cả hai đều yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ, điều đó thể hiện cả hai bên không có ý muốn đoàn tụ với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, hai bên không còn yêu thương, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, vi phạm nghĩa vụ vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho nguyên đơn ly hôn với bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Về con chung: Hai bên cùng xác định có 03 (ba) người con chung gồm: Đàm Thị Thảo L1 (sinh ngày 19/12/2011), Đàm Tú L (sinh ngày 06/5/2014) và Đàm Đức A (sinh ngày 11/01/2017). Nguyên đơn yêu cầu sau khi ly hôn, giao các con chung nêu trên cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng; hai bên tự thỏa thuận việc cấp dưỡng cho con. Xét thấy, theo bản tự khai ghi nhận ý kiến của con chung trên 7 tuổi, các cháu Đàm Thị Thảo L1, Đàm Tú L và Đàm Đức A đều có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Đồng thời, bị đơn cũng thống nhất đồng ý với yêu cầu nêu trên của nguyên
đơn, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này của hai bên. Giao các con chung – cháu Đàm Thị Thảo L1 (sinh ngày 19/12/2011), Đàm Tú L (sinh ngày 06/5/2014) và Đàm Đức A (sinh ngày 11/01/2017) cho bị đơn – bà Tô Thị S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; hai bên tự thỏa thuận việc cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung: Hai bên xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Hai bên xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 115, Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Đàm Văn D.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Đàm Văn D ly hôn với bà Tô Thị S.
Quan hệ hôn nhân giữa ông Đàm Văn D và bà Tô Thị S (theo Giấy Chứng nhận kết hôn số 30, quyển 02 đăng ký ngày 15/6/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa) chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Ông Đàm Văn D và bà Tô Thị S có 03 (ba) người con chung gồm: Đàm Thị Thảo L1 (sinh ngày 19/12/2011), Đàm Tú L (sinh ngày 06/5/2014) và Đàm Đức A (sinh ngày 11/01/2017). Công nhận sự thỏa thuận giữa ông D và bà S về việc: Giao các con chung – Đàm Thị Thảo L1 (sinh ngày 19/12/2011), Đàm Tú L (sinh ngày 06/5/2014) và Đàm Đức A (sinh ngày 11/01/2017) cho bà Tô Thị S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp
nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ này, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về cấp dưỡng: Hai bên tự thỏa thuận việc cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Hai bên xác định không có, không yêu cầu giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, ông Đàm Văn D phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà ông D đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0079455 ngày 22/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông D đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền, thời hạn kháng cáo: Ông Đàm Văn D, bà Tô Thị S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị bản án theo quy định pháp luật.
4. Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Danh Đời |
Bản án số 714/2025/HNGĐ-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 714/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
