Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 713/2025/DS-PT

Ngày: 12/12/2025

V/v ‘"T/c quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hải

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan

Bà Đào Thị Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thảo Ngân là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Phùng Bích Tuyền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12/12/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 283/TLPT-DS ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2025/DS-ST ngày 06/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ) có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 671/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phan Trí L, sinh năm 1972. (có mặt)

Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang (nay là: xã T, thành phố Cần Thơ).

Bị đơn:

1.Bà Dương Thị M; (vắng mặt)

2. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1980. (có mặt)

Cùng địa chỉ: ấp L, xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang (nay là: xã T, thành phố Cần Thơ).

Người làm chứng:

1. Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1970. (vắng mặt)

Địa chỉ: G, Nguyễn Sinh S, khóm H, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (nay là: 71, Nguyễn Sinh S, khóm H, phường S, tỉnh Đồng Tháp).

2. Phạm Văn D, sinh năm 1991; Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang (nay là: xã T, thành phố Cần Thơ). (vắng mặt)

Người kháng cáo: Bị đơn ông Phạm Văn T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn ông Phan Trí L trình bày: Vào ngày 26/8/2024, nguyên đơn có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Nguyễn Hoàng P, đất tại ấp L, xã L, gồm các phần sau:

  1. Thửa 111, diện tích 300m², loại đất ở nông thôn;
  2. Thửa 110, diện tích 374m², loại đất trồng cây lâu năm.
  3. Thửa 9, diện tích 6282,0m², loại đất trồng cây lâu năm.

Các thửa đất trên thì nguyên đơn đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P chỉnh lý biến động chuyển sang tên nguyên đơn Phan Trí L ngày 26/8/2024. Tại Trang 4 của các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Gọi tắt là GCNQSDĐ) có số phát hành DG 713990, số DG 713991 và số DG 713992.

Về nguồn gốc đất là của Phạm Văn T chuyển nhượng cho Nguyễn Hoàng P, P chuyển nhượng qua nguyên đơn. Sau khi nhận chuyển nhượng đất thì nguyên đơn không thể nhận đất để sử dụng, hiện nay muốn xây dựng nhà ở cũng không được vì bị đơn Dương Thị M và Phạm Văn T có một căn nhà cấp 4 đang ở trên các thửa đất của nguyên đơn. Căn nhà khoảng 60m². Kết cấu cột cây, vách tol, mái tol, các cây trên đất khi mua đất là đã có sẵn. Hai hàng rào lưới B40 là do nguyên đơn làm. Qua đo đạc nguyên đơn mới xác định phần đất tranh chấp thuộc các thửa số 110, 111 và thửa số 9 (Nay là thửa số 216) do nguyên đơn đứng tên, diện tích tranh chấp 495,9m². Nguyên đơn đồng ý với kết quả đo đạc.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Dương Thị M và ông Phạm Văn T có nghĩa vụ tháo dở, di dời căn nhà khoảng 60m². Kết cấu cột cây, vách tol, mái tol để trả lại phần đất cho nguyên đơn theo bản Trích đo bản đồ địa chính ngày 22/4/2025 của của Công ty cổ phần Đ.

Bị đơn bà Dương Thị M vắng mặt nên chưa tòa án cấp sơ thẩm chưa ghi lời khai được.

* Bị đơn ông Phạm Văn T trình bày: Vào khoảng năm 2022, ông có phần đất khoảng 12.000m², ông có kêu ông Phạm Văn D (cùng ấp) bán lại. Trên đất đó có căn nhà của mẹ bị đơn là bà Dương Thị M đang ở nên bị đơn có nói là ai mua phần đất đó thì cho mẹ bị đơn ở hết đời thì bị đơn mới bán. Căn nhà có kết cấu: Cuốn nền, cột cây, lót gạch bông, mái tol, chung quanh dựng tol, diện tích khoảng 40m². Lúc này ông D nói là để ông Nguyễn Hoàng P (Đồng Tháp) đứng tên vì ông P mua đất để lâu dài. Bị đơn làm thủ tục bán chuyển tên qua ông P toàn bộ khoảng 12.000m². Sau đó, khoảng 02 năm thì ông P có nhờ ông chuyển nhượng lại phần đất đó, bị đơn kêu nhiều người để chuyển nhượng lại giùm ông P nhưng ông L là người chuyển nhượng sau cùng.

Về giấy tờ, nguồn gốc đất là do ông chuyển nhượng lại cho ông P, ông P chuyển nhượng lại cho nguyên đơn. Đối với diện tích đất đã chuyển nhượng nên bị đơn không có tranh chấp nhưng về căn nhà thì do trước đây ông D và ông P đã hứa (Hai người này chỉ hứa miệng với bị đơn không có lập thành văn bản) là cho mẹ bị đơn ở đến khi trăm tuổi già thì giờ phải cho ở chứ ông không đồng ý di dời nhà. Khi mẹ ông trăm tuổi già thì mới đồng ý dở nhà trả lại đất phía nguyên đơn. Mẹ bị đơn năm nay đã 87 tuổi, căn nhà hiện do một mình mẹ bị đơn, bị đơn thì có nhà ở riêng ở ấp L, xã L. Bị đơn đồng ý với diện tích theo kết quả đo đạc thực tế. Các cây trên đất khi chuyển nhượng đất là bán luôn cây trồng nên nếu bị di dời nhà thì bị đơn không có yêu cầu gì đối với các cây trồng này. Riêng 2 hàng rào lưới B40 là do nguyên đơn làm.

Ông Nguyễn Hoàng P trình bày: Giữa ông, ông L với ông T không có bà con họ hàng gì với nhau. Vào năm 2023, ông P có nhận chuyển nhượng đất của ông T diện tích đất khoảng 12.000m², sau khi nhận chuyển nhượng thì toàn bộ diện tích đất đã chuyển quyền sử dụng cho ông P đứng tên. Khi chuyển nhượng trên đất có căn nhà do bà M đang ở, lúc đó giữa ông và ông T không có thỏa thuận gì về việc cho bà M ở tiếp, nhưng giữa ông D và ông T có thỏa thuận gì thì ông P không biết nhưng sau đó ông D có nói với ông P là cho bà M ở lại đó nhưng ông P không đồng ý. Khi đó ông T có cam kết với ông P việc dời nhà nên ông mới đồng ý mua.

Qua năm 2024, do không có nhu cầu sử dụng nên ông P chuyển nhượng lại toàn bộ diện tích cho ông L và thủ tục chuyển nhượng đã xong, đất giao cho ông L canh tác và đã đứng tên giấy đất. Khi chuyển nhượng trên đất cũng còn có căn nhà do bà Dương Thị M đang ở, lúc đó giữa ông và ông L cũng không thỏa thuận gì về việc cho bà M ở vì ông P có nói với ông L là bên ông T sẽ dời nhà bà M vì ông T có cam kết.

Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử công khai.

Tại Bản án số 85/2025/DS-ST ngày 06/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ) đã tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phan Trí L:

Buộc bị đơn bà Dương Thị M và Phạm Văn T cùng có nghĩa vụ tự tháo dở, di dời các công trình gồm:

Nhà chính: Kích thước 04 mét x 11 mét, kết cấu khung gỗ tạp, vách tole, mái tole, nền gạch bông (Trong đó có hai vách tường diện tích 25,6m²);

Mái che trước nhà: Kích thước 03 mét x 04 mét, kết cấu khung gỗ tạp, mái tole, nền đất;

Mái che hong nhà: Kích thước 03 mét x 8,5 mét, kết cấu khung gỗ tạp, mái tole, nền láng xi măng để trả lại các phần đất cho Phan Trí L có tổng diện tích 495,9m², trong đó:

  1. Một phần thửa 110, có diện tích 142,4m², loại đất CLN thuộc GCNQSDĐ số: CS03451, chỉnh lý ngày 26 tháng 8 năm 2024 do ông Phan Trí L đứng tên sử dụng;
  2. Một phần thửa 111, có diện tích 194,4m², loại đất ONT thuộc GCNQSDĐ số: CS03452, chỉnh lý ngày 26 tháng 8 năm 2024 do ông Phan Trí L đứng tên sử dụng;
  3. Có diện tích 159,1m², loại đất CLN thuộc GCNQSDĐ số: CS03453 (Thuộc một phần thửa 9 theo GCNQSDĐ chỉnh lý ngày 26 tháng 8 năm 2024) nay thuộc phần thửa 216 theo GCNQSDĐ chỉnh lý ngày 31 tháng 12 năm 2024 do ông Phan Trí L đứng tên sử dụng.(Có Trích đo bản đồ địa chính, ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Công ty cổ phần Đ kèm theo).

Phan Trí L được quyền sở hữu toàn bộ cây trồng có trên 495,9m² đất nêu trên.

Bà Dương Thị M được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng để tìm nơi ở mới.

Án phí dân sự sơ thẩm: Phạm Văn T phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).

Chi phí đo đạc, thẩm định, định giá tài sản, lấy kết quả đo đạc và lệ phí trích lục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Buộc bà Dương Thị M và Phạm Văn T cùng có nghĩa vụ nộp 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) để hoàn trả lại Phan Trí L.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp tuyên xử bị đơn ông Phạm Văn T đã kháng cáo bản án trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Phạm Văn T vẫn giữ yêu cầu kháng cáo. Ông yêu cầu cho bà Dương Thị M được tiếp tục ở đến khi mất.

Ông Phan Trí L không đồng ý yêu cầu kháng cáo của ông T. Tuy nhiên, ông đồng ý hỗ trợ chi phí di dời cho bà M, ông T là 10.000.000 đồng. Bà M và ông T có nghĩa vụ di dời toàn bộ tài sản ra khỏi phần đất của ông.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Nguyên đơn chuyển nhượng đất và toàn bộ tài sản từ ông P. Giữa bà M, ông T không có thỏa thuận nào với ông P và ông L. Hợp đồng chuyển nhượng đã hoàn tất và đất đã dứng tên quyền sử dụng của ông L. Tuy nhiên, ông L chưa nhận tài sản do có căn nhà của bà M. Bản án sơ thẩm là phù hợp quy định pháp luật. Do tại phiên tòa phúc thẩm, ông L tự nguyện hỗ trợ chi phí di dời cho bị đơn là 10.000.000 nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Sửa một phần bản án dân sự do nguyên đơn tự nguyện hỗ trợ di dời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ) thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem xét.

[2] Xét nội dung vụ kiện nhận thấy: Vào năm 2023, anh P có nhận chuyển nhượng đất của ông T. Hai bên đã thanh toán tiền chuyển nhượng xong. Lúc chuyển nhượng có căn nhà của bà M trên đất nhưng hai bên không có thỏa thuận việc để cho căn nhà bà M được ở đến cuối đời. Ngược lại, khi nguyên đơn nhận chuyển nhượng thì bị đơn có cam kết là sẽ di dời nhà bà M khi ông có nhu cầu sử dụng đất. Sau đó, ông P chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông L và ông L đã trả tiền đủ. Quyền sử dụng đất hiện tại ông L đứng tên chủ quyền. Vì vậy, ông Linh K yêu cầu bà M, ông T di dời tài sản trả lại phần đất cho ông. Phía bị đơn ông T và bà M yêu cầu được tiếp tục ở trên đất cho đến khi bà M mất.

Hội đồng xét xử xét thấy, các bên không tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua các lần. Phần đất đang tranh chấp thì nguyên đơn được Nhà nước công nhận quyền sử dụng hợp pháp. Bị đơn T cũng thừa nhận là đất đã chuyển nhượng toàn bộ, bị đơn không có yêu cầu gì đối với các phần đất đã chuyển nhượng cũng như không có yêu cầu gì đối với các loại cây trồng có trên đất nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét và giải quyết.

[3] Xét căn nhà của bà Dương Thị M đang ở nhận thấy: Khi ông T lập hợp đồng chuyển nhượng qua ông P và ông P chuyển nhượng qua ông L thì đã có căn nhà này, do nhà không có giấy chứng nhận quyền sở hữu nên khi chuyển nhượng không được ghi vào hợp đồng. Giữa ba bên không có thỏa thuận cho căn nhà của bà M được tiếp tục ở. Việc bị đơn cho rằng ông D hứa để nhà cho ở lại nhưng ông D không phải là người chuyển nhượng đất của bị đơn mà ông P mới là người chuyển nhượng. Theo giá trị thẩm định thì phần căn nhà của M có giá trị là: 77.523.003 đồng, phần cây trồng là: 4.650.000 đồng. Tổng cộng 82.173.000 đồng. Do lúc chuyển nhượng các bên không có thỏa thuận về việc tồn tại căn nhà trên đất. Vì vậy, bị đơn phải có nghĩa vụ di đời tài sản là căn nhà để giao trả phần đất đã chuyển nhượng cho nguyên đơn. Bản án sơ thẩm tuyên là phù hợp và có căn cứ.

[4] Xét yêu cầu kháng cáo của ông T nhận thấy: ông P là người nhận chuyển nhượng trực tiếp từ ông T. Ông T có cam kết là sẽ tự tháo dở, di dời căn nhà khi người mua đất có nhu cầu sử dụng. Nay, ông T yêu cầu cho căn nhà của bà M ở đến cuối đời là không phù hợp. Mặt khác, vị trí đất có căn nhà là nằm gần như gần hết phần đất mặt tiền của nguyên đơn, cho nên nếu không cam kết tháo dở nhà thì người mua đất cũng không đồng ý mua tại thời điểm các bên tiến hành giao dịch. Do đó, yêu cầu kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở. Vì vậy, giữ y bản án sơ thẩm.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn đồng ý hỗ trợ di dời tài sản là cây trồng và căn nhà của ông T, bà M ra khỏi phần đất nguyên đơn hỗ trợ là 10.000.000 đồng. Nguyên đơn không nhận phần cây trồng trên đất. Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải nộp án phí đối với vụ án không có giá ngạch nhưng do bà Dương Thị M là người cao tuổi nên được xét phần miễn án phí của bà M. Anh T phải nộp là 300.000 đồng. Ông L được nhận lài tiền tạm ứng án phí.

[6] Chi phí đo đạc, thẩm định, định giá tài sản, lấy kết quả đo đạc và lệ phí trích lục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 7.000.000 đồng, nguyên đơn đã nộp xong. Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên cần buộc bị đơn phải nộp lại số tiền này để hoàn trả nguyên đơn.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Văn T phải chịu theo quy định.

[8] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 229, Khoản 1, Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2025.

Điều 100, Điều 106, Điều 202 và 203 Luật đất đai Luật đất đai năm 2013.

Điều Điều 29, Điều 133, Điều 137, Điều 235, Điều 236 Luật đất đai năm 2024.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 của Ủy Ban T1 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phạm Văn T. Sửa một phần bản án dân sự (do có sự tự nguyện hỗ trợ của nguyên đơn).

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Trí L:

Buộc bị đơn bà Dương Thị M và ông Phạm Văn T cùng có nghĩa vụ tự tháo dở, di dời các công trình trên đất gồm:

Nhà chính: Kích thước 04 mét x 11 mét, kết cấu khung gỗ tạp, vách tole, mái tole, nền gạch bông (Trong đó có hai vách tường diện tích 25,6m²);

Mái che trước nhà: Kích thước 03 mét x 04 mét, kết cấu khung gỗ tạp, mái tole, nền đất;

Mái che hong nhà: Kích thước 03 mét x 8,5 mét, kết cấu khung gỗ tạp, mái tole, nền láng xi măng để trả lại các phần đất cho Phan Trí L có tổng diện tích 495,9m², trong đó:

  1. Một phần thửa 110, có diện tích 142,4m², loại đất CLN thuộc GCNQSDĐ số: CS03451, chỉnh lý ngày 26 tháng 8 năm 2024 do ông Phan Trí L đứng tên sử dụng;
  2. Một phần thửa 111, có diện tích 194,4m², loại đất ONT thuộc GCNQSDĐ số: CS03452, chỉnh lý ngày 26 tháng 8 năm 2024 do ông Phan Trí L đứng tên sử dụng;
  3. Có diện tích 159,1m², loại đất CLN thuộc GCNQSDĐ số: CS03453 (Thuộc một phần thửa 9 theo GCNQSDĐ chỉnh lý ngày 26 tháng 8 năm 2024) nay thuộc phần thửa 216 theo GCNQSDĐ chỉnh lý ngày 31 tháng 12 năm 2024 do ông Phan Trí L đứng tên sử dụng.

(Kèm bản Trích đo bản đồ địa chính, ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Công ty cổ phần Đ).

Bị đơn có trách nhiệm di dời toàn bộ cây trồng ra khỏi phần đất tranh chấp.

Bà Dương Thị M được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Phan Chí L1 về việc hỗ trợ chi phí di dời tài sản cho bà Dương Thị M và ông Phạm Văn T là 10.000.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Văn T phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).

Nguyên đơn ông Phan Trí L được nhận lại 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007496 ngày 20/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13 – Cần Thơ).

Chi phí đo đạc, thẩm định, định giá tài sản, lấy kết quả đo đạc và lệ phí trích lục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Buộc bà Dương Thị M và ông Phạm Văn T cùng có nghĩa vụ nộp 7.000.000đồng (Bảy triệu đồng) để hoàn trả lại ông Phan Trí L.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Văn T phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002109 ngày 16/6/2025 thành tiền án phí. Ông T đã nộp xong.

Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyết L2 – Đào Thị Thủy

Nguyễn Văn Hải

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND Khu Vực 13- Cần Thơ.
  • - Phòng THADS Khu vực 13- Cần Thơ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 713/2025/DS-PT ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 713/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Phan Trí L kiện bà Dương Thị M đòi quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger