TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 712/2024/DS-PT Ngày: 19/8/2024 V/v đòi lại tài sản, yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Bùi Thị Kim Dung |
| Các Thẩm phán: | Bà Lê Thị Ngọc Hương |
| Bà Phan Thị Tú Oanh |
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Tào Minh Quân - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 12, 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 284/2023/TLPT-DS ngày 07 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản, yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 849/2023/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3615/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 7 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Thân Văn K, sinh năm 1959.
Địa chỉ: A C P, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền:
Ông Đoàn Thế P, sinh năm 1969. (Có mặt)
Địa chỉ: I Đường I, khu phố B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Văn bản ủy quyền số công chứng 00001686 ngày 10/02/2020 lập tại Văn phòng C3).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
Ông Phạm Ngọc Q – Luật sư của Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Phạm Tiến C, sinh năm 1966. (Có mặt)
Địa chỉ: B Khu dân cư B L, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền:
Ông Phạm Văn H, sinh năm 1971. (Có mặt)
Địa chỉ: Số D đường N, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Văn bản ủy quyền số công chứng 010629 ngày 03/11/2020 lập tại Văn phòng C4).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Vũ Thị Hồng H1, sinh năm 1969.
Địa chỉ: B Khu dân cư B L, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền:
Ông Phạm Văn H, sinh năm 1971. (Có mặt)
Địa chỉ: Số D đường N, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Văn bản ủy quyền số công chứng 000010658 ngày 28/12/2020 lập tại Văn phòng C5).
2. Ông Phạm Tiến D, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Số A, N, Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền:
Ông Phạm Văn H, sinh năm 1971. (Có mặt)
Địa chỉ: Số D đường N, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Văn bản ủy quyền số công chứng 000010657 ngày 28/12/2020 lập tại Văn phòng C5).
3. Bà Nguyễn Thị Hồng D1, sinh năm 1976. (xin vắng mặt)
Địa chỉ: A C P, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Văn phòng C5, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Địa chỉ: B L, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Văn phòng C6, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Địa chỉ: Số A T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Thân Văn K, bị đơn ông Phạm Tiến C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 10/02/2020, Đơn khởi kiện bổ sung ngày 07/8/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Thân Văn K có ông Đoàn Thế P là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ông Thân Văn K và ông Phạm Tiến C có mối quan hệ thân thiết. Do tin tưởng và muốn giúp đỡ ông C làm ăn nên vào năm 2017, ông K đã nhiều lần cho ông C mượn tiền bằng cách chuyển vào tài khoản số 24643749 của ông C tại Ngân hàng TMCP Á theo các Ủy nhiệm chi ngày 09/6/2017, ngày 01/11/2017; Phiếu chuyển tiền ngày 05/5/2017 và ngày 10/7/2017 với tổng số tiền 20.000.000.000 đồng. Cụ thể như sau:
- Ngày 5/5/2017, chuyển số tiền: 12.000.000.000 đồng.
- Ngày 09/6/2017, chuyển số tiền: 3.000.000.000 đồng.
- Ngày 10/7/2017, chuyển số tiền: 3.000.000.000 đồng.
- Ngày 01/11/2017, chuyển số tiền: 2.000.000.000 đồng.
Cuối năm 2019, ông K đã hai lần gửi thông báo yêu cầu ông C phải hoàn trả toàn bộ số tiền 20.000.000.000 đồng. Ông C xác nhận có nhận được thông báo và thừa nhận có nhận số tiền 20.000.000.000 đồng nhưng phản hồi không trả tiền. Do đó, ông K khởi kiện yêu cầu ông C và vợ là bà Vũ Thị Hồng H1 có nghĩa vụ trả lại số tiền 20.000.0000.000 đồng mà ông K đã cho ông C mượn. Đồng thời, ông K yêu cầu ông C, bà H1 phải trả tiền lãi phát sinh trên số tiền chậm trả tính từ ngày 08/02/2020 (là ngày hạn chót ông C phải trả đủ tiền theo Thông báo yêu cầu trả lại tiền ngày 14/01/2020) đến ngày xét xử sơ thẩm mức lãi suất là 10%/năm.
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, ông C đã lập hợp đồng tặng cho vợ là bà Vũ Thị Hồng H1 và em ruột là ông Phạm Tiến D các bất động sản với mục đích tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả tiền đối với ông K. Do đó, tại Đơn khởi kiện bổ sung ngày 07/8/2020, ông K yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với hai Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 13/5/2020 giữa ông Phạm Tiến C với bà Vũ Thị Hồng H1 đối với thửa đất số 181, Tờ bản đồ số 19, tại phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 11/5/2020 giữa ông Phạm Tiến C với ông Phạm Tiến D đối với thửa đất số 639, Tờ bản đồ số 32, tại địa chỉ C khu E, phường C, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn ông Phạm Tiến C cùng người đại diện theo ủy quyền là ông Phạm Văn H trình bày:
Ông C xác nhận ông K đã chuyển cho ông số tiền theo các Ủy nhiệm chi ngày 09/6/2017 (số tiền 3.000.000.000 đồng), Ủy nhiệm chi ngày 01/11/2017 (số tiền 2.000.000.000 đồng); Phiếu chuyển tiền ngày 05/5/2017 (số tiền 12.000.000.000 đồng) và P1 chuyển tiền ngày 10/7/2017 (số tiền 3.000.000.000 đồng), tổng cộng 20.000.000.000 đồng là đúng. Tuy nhiên, số tiền này là tiền ông K chi trả phần vốn góp của ông C tại Công ty Cổ phần K1 và tiền ông K tặng cho ông C sau khi bán mỏ Titan Nam Suối Nhum dưới hình thức là chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của Công ty TNHH T1 cho Công ty Cổ phần R. Do đó, ông C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông K, bởi những căn cứ sau đây:
1. Cho đến thời điểm ông C nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân Quận 2 (ngày 09/4/2020) trở về trước, ông C chưa nhận được bất cứ thông tin nào (văn bản, lời nói, cuộc gọi điện thoại, tin nhắn, các trao đổi bằng phương tiện điện tử ...) từ ông K về việc ông C có vay tiền của ông K. Ngay tại hai văn bản ông K ký ngày 16/12/2019 và ngày 14/01/2020 không có một từ, một chữ, một ý nào ông K nói ông C đã vay tiền và yêu cầu ông C trả tiền đã vay.
2. Việc ông K cho anh em chủ chốt tiền trong bối cảnh ông K vừa bán mỏ titan dưới hình thức chuyển nhượng Công ty T1 lớn về mặt tài chính, thu được hơn 700 tỷ đồng sau 18 năm thành lập Công ty T1 với số vốn ban đầu 600 triệu đồng như ông K nói với ông C là để chia sẻ lợi ích thu được từ việc bán mỏ titan cho những anh em đã cộng sự với ông K cả chục năm qua để phát triển Công ty T1, đồng thời cũng là để hỗ trợ anh em đảm bảo cuộc sống sau này vì sau khi chuyển nhượng Công ty T1 những anh em này đều không chuyển sang làm việc tại Tập đoàn R1 nữa và ở độ tuổi rất khó tìm được việc làm mới. Việc tặng cho này là chính đáng, không vi phạm pháp luật, phù hợp với đạo lý và điều kiện, khả năng tài chính của ông K sau khi bán mỏ titan thành công.
3. Từ năm 2008, ông K đã bỏ tiền để góp vốn cho ông C tại Công ty T1 và đóng bổ sung mỗi khi Công ty T1 tăng vốn điều lệ để duy trì cho ông C luôn sở hữu 5% vốn điều lệ tại Công ty T1 nên việc ông K cho ông C tiền là thể hiện ý chí và cam kết của chủ doanh nghiệp đảm bảo lợi ích cho những cộng sự chủ chốt đem đến thành công của doanh nghiệp. Việc ông C sở hữu 5% vốn điều lệ tại Công ty T1 nhưng sau khi chuyển nhượng toàn bộ vốn góp của Công ty T1 và bên mua (Công ty Cổ phần R) đã chuyển tiền thanh toán đầy đủ tất cả cho ông K nhưng đến nay ông K chưa trả tiền cho ông C. Do ông C vẫn chưa nhận tiền chuyển nhượng vốn góp cũng là căn cứ để chứng minh tiền ông K chuyển cho ông C năm 2017 là tiền ông K tặng cho ông C, bởi khi ông C đã nhận tiền tặng cho về tâm lý ông C rất khó khăn khi chủ động đề nghị ông K thanh toán tiền chuyển nhượng phần vốn góp ông C sở hữu.
Ngày 19/11/2020, ông C nộp đơn phản tố yêu cầu ông K trả lại tài sản mà ông K đang chiếm giữ là tiền chuyển nhượng phần vốn góp tương ứng với 5% phần vốn góp của ông C tại Công ty TNHH T1 theo Hợp đồng số 170713-05 ngày 13/7/2017; Hợp đồng số 170713-06 ngày 13/7/2017 (sau khi trừ đi tiền thuế thu nhập cá nhân) là 15.890.400.000 đồng và tiền chuyển nhượng phần vốn góp của Đợt 1 (50%) theo Hợp đồng ngày 09/3/2017 là 13.689.000.000 đồng. Đồng thời, ông C yêu cầu tính tiền lãi chậm trả theo lãi suất 10%/năm tính từ ngày 31/3/2020. Tổng số tiền các khoản gốc và lãi tính đến ngày 31/10/2020 là 31.653.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị Hồng H1 trình bày:
Bà H1 là vợ ông C, kết hôn năm 2001. Bà H1 không nghe ông C nói vay tiền của ông K; gia đình bà từ năm 2010 đến nay không có đầu tư làm ăn hay xây dựng kiến thiết nhà cửa cần phải có một khoản tiền lớn nên không có nhu cầu vay mượn tiền. Năm 2017, ông C có nói với bà H1 việc Công ty T1 bán mỏ khoáng sản ở Bình Thuận và bán toàn bộ Công ty T1 cho Tập đoàn R1. Ông K có chi trả đủ tiền và hỗ trợ thêm 50% cho các anh em góp vốn chung khai thác mỏ ở Bình Thuận, ngoài ra những cán bộ nòng cốt được ông K chia cho một khoản tiền thu được từ bán mỏ. Ông C nói toàn bộ các khoản ông K chuyển cho là 20.000.000.000 đồng, tất cả số tiền này ông C giữ để trả nợ tiền vay góp vốn chung với các em khai thác mỏ trước đây và góp vốn với ông K để thành lập
Công ty mới. Do đó, bà H1 xác định không liên quan và xin không tham gia trong toàn bộ quá trình tố tụng vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Tiến D trình bày:
Trước đây, ông D làm việc tại Tổ khai thác Titan của Chi nhánh Công ty T1 tại Bình Thuận. Tháng 5/2017, khi Công ty T1 chi trả tiền vốn góp Công ty Cổ phần K1 cho những anh em góp vốn, ông D lên nhận thì thấy ông C đã ký nhận thay. Do chưa có nhu cầu sử dụng số tiền này nên ông D nhờ ông C giữ hộ để sau này nhờ ông C đầu tư mua bất động sản. Tháng 01/2018, ông D rủ chị gái là bà Phạm Thị P2 (B - Lâm Đồng) hùn vốn mua chung 03 lô đất, trong đó có lô C5-12-15 và nhờ ông C đứng tên. Đến tháng 10/2018, ông D mượn tiền ông C đủ để thanh toán xong. Đến ngày 11/5/2020, ông C lập hợp đồng tặng cho Thửa đất số 639, Tờ bản đồ 32 tại địa chỉ: C, Khu E, phường C, Quận B (vì là anh em ruột nên được miễn thuế khi tặng cho quyền sử dụng đất) cho ông D. Việc hai bên xác lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là đúng quy định của pháp luật. Do đó, ông D yêu cầu Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thu hồi Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 06/2020/QĐ-BPKCTT ngày 11/8/2020 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng D1 trình bày:
Bà D1 là vợ ông Thân Văn K. Vào năm 2017, bà có biết việc ông K chuyển cho ông C số tiền 20.000.000.000 đồng. Bà D1 hỏi thì ông K nói là cho ông C vay để làm ăn và kinh doanh bất động sản. Khoảng cuối năm 2019, gia đình bà D1 yêu cầu ông C trả số tiền nêu trên nhưng ông C không trả nên phát sinh tranh chấp.
Đối với yêu cầu phản tố của ông C yêu cầu ông K trả lại tiền chuyển nhượng phần vóp góp 5% của ông C tại Công ty TNHH T1 mà ông K đang chiếm giữ, bà D1 cho rằng Công ty T1 là doanh nghiệp gia đình, tất cả các thành viên là người thân của ông Thân Văn K, bao gồm bà D1 (vợ), con riêng và em của ông K. Trên thực tế, ông C không hề góp vốn vào công ty, trong các lần tăng vốn điều lệ thì đều do gia đình bà đóng góp, cụ thể: Lần tăng vốn điều lệ thay đổi lần thứ 12 (ngày 09/5/2008), ông C được bổ sung tên trong danh sách thành viên nhưng không góp vốn; Lần tăng vốn theo đăng ký thay đổi lần thứ 15 (ngày 20/4/2010) thì ông C cũng không góp vốn, ông C cũng thừa nhận không góp một đồng nào; Lần tăng vốn điều lệ theo đăng ký thay đổi lần thứ 17 (ngày 08/12/2015) thì chính bà D1 là người nộp số tiền 3.900.000.000 đồng đối với phần vốn góp của ông C theo Ủy nhiệm chi ngày 04/12/2015 của Ngân hàng V - Chi nhánh N1; Lần tăng vốn điều lệ theo đăng ký thay đổi lần thứ 18 (ngày 08/3/2017) thì chính bà D1 là người nộp số tiền 7.500.000.000 đồng đối với phần vốn góp của ông C theo Ủy nhiệm chi ngày 14/3/2017 của Ngân hàng V - Chi nhánh N1. Việc ông C thừa nhận không nộp tiền vốn góp nên không được nhận bất cứ tài sản gì khi Công ty T1 phải chuyển nhượng toàn bộ 100% vốn sở hữu cho Công ty Cổ phần R là điều đương nhiên. Số tiền bà D1 nộp thay đối với
phần vốn góp của ông C là vì quyền lợi của Công ty và gia đình nên số tiền nhận được từ việc chuyển nhượng 5% phần vốn góp theo 02 hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp số 170713-05/HĐCNV và 170713-06/HĐCNV ngày 13/7/2017 là của bà D1 và gia đình. Do đó, việc ông C yêu cầu ông K trả lại số tiền chuyển nhượng phần vốn góp 5% tại Công ty T1 mà ông K đang chiếm giữ là không có cơ sở. Vì vậy, bà D1 đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K, bác toàn bộ yêu cầu phản tố của ông C. Đồng thời, bà D1 xin được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án các cấp giải quyết, xét xử vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng C5, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày:
Theo yêu cầu của khách hàng, ngày 13/5/2020, Văn phòng C5 đã công chứng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không có tài sản gắn liền với đất số công chứng 000002827, bên tặng cho là ông Phạm Tiến C, bên nhận tặng cho là bà Vũ Thị Hồng H1. Công chứng viên đã kiểm tra đủ các tài liệu làm cơ sở pháp lý và tiến hành các thủ tục công chứng hợp đồng đúng quy định của pháp luật. Hiện nay, do khó khăn trong việc cử người tham gia tô tụng nên Văn phòng C5 xin vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và xét xử tại Tòa án các cấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng C6, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày:
Văn phòng C6 đã thực hiện công chứng Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 004415, Quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/5/2020 hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Do bận công việc, không thể cử đại diện thường xuyên có mặt tham gia suốt quá trình giải quyết vụ án nên Văn phòng C6 đề nghị được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, hòa giải và xét xử tại Tòa án.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu tuyên bố vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 11/5/2020 giữa ông Phạm Tiến C với ông Phạm Tiến D đối với thửa đất số 639, tờ bản đồ số 32, tại địa chỉ C khu E, phường C, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Giữ nguyên các yêu cầu còn lại.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Luật sư Phạm Ngọc Q thống nhất với các ý kiến trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bác bỏ toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
- Bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 849/2023/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã:
Căn cứ vào:
- Khoản 2, khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 217; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 166; khoản 1 Điều 579; Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 50; Điều 51 Luật Doanh nghiệp năm 2014;
- Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Nghị quyết 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Luật Thi hành án dân sự;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Thân Văn K:
1.1. Buộc ông Phạm Tiến C và bà Vũ Thị Hồng H1 có nghĩa vụ trả cho ông Thân Văn K số tiền 20.000.000.000 đồng và tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất 10%/năm, tương ứng với thời gian chậm trả từ ngày 09/02/2020 đến ngày xét xử (ngày 30/3/2023) là: 6.287.214.611 đồng. Tổng cộng là 26.287.214.611 đồng.
1.2. Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số [...] do Văn phòng C5 chứng thực ngày 13/5/2020 giữa ông Phạm Tiến C và bà Vũ Thị Hồng H1, đối với Thửa đất số 181, Tờ bản đồ số 19, diện tích 187,5m² tại phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận có số phát hành BR 364765, số vào sổ cấp GCN CH03730 do U cấp ngày 24/01/2014.
1.3. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu tuyên bố vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 004415 do Văn phòng C6 chứng thực ngày 11/5/2020 giữa ông Phạm Tiến C và ông Phạm Tiến D đối với thửa đất: Số 639, tờ bản đồ số 32, tại địa chỉ: C khu E, phường C, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận số CK 969132, số vào sổ cấp GCN CH03034 do Ủy ban nhân dân Quận U cấp ngày 26/3/2018.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phạm Tiến C:
2.1. Buộc ông Thân Văn K có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Tiến C khoản lợi nhuận thu được từ việc chuyển nhượng 5% phần vốn góp đứng tên ông C tại Công ty TNHH T1 theo Hợp đồng số 170713-05 ngày 13/7/2017; Hợp đồng số 170713-06 ngày 13/7/2017 với số tiền là 890.400.000 đồng và tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất 10%/năm, tương ứng với thời gian chậm trả từ ngày 15/6/2020 đến ngày xét xử (ngày 30/3/2023) là: 248.763.123 đồng. Tổng cộng là 1.139.163.123 đồng.
2.2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Tiến C buộc ông Thân Văn K trả lại tiền chuyển nhượng phần vốn góp tại Công ty TNHH T1 của Đ (50%) theo Hợp đồng ngày 09/3/2017 (sau khi trừ đi tiền thuế thu nhập cá nhân) là 13.689.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả.
3. Đối trừ nghĩa vụ, ông Phạm Tiến C và bà Vũ Thị Hồng H1 còn phải trả cho ông Thân Văn K số tiền 25.148.051.488 (Hai mươi lăm tỷ một trăm bốn mươi tám triệu không trăm năm mươi mốt nghìn bốn trăm tám mươi tám) đồng. Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho bên được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về biện pháp khẩn cấp tạm thời:
- Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 05/2020/QĐ-BPKCTT ngày 11 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân Quận 2 (nay là Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp quy định tại Điều 121 của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với thửa đất số 181, tờ bản đồ số 19, tại phường T, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 364765 do Ủy ban nhân dân Quận U cấp ngày 24/01/2014 đứng tên ông Phạm Tiến C và bà Vũ Thị Hồng H1; cập nhật sang tên bà Vũ Thị Hồng H1 ngày 09/6/2020.
- Tiếp tục duy trì biện pháp bảo đảm tại Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 05/2020/QĐ-BPBĐ ngày 11 tháng 8 năm 2020 Tòa án nhân dân Quận 2 (nay là Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh: Phong tỏa chứng chỉ tiền gửi ghi danh số: CD 00620160; chủ sở hữu: Thân Văn K; số tài khoản: 00440390017; mệnh giá: 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng; kỳ hạn: 469 ngày do Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1) – Chi nhánh B1 – Phòng G phát hành ngày 11/5/2020.
- Hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 06/2020/QĐ-BPKCTT ngày 11 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân Quận 2 (nay là Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp quy định tại Điều 121 của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với thửa đất số 639, tờ bản đồ số 32, địa chỉ C5-12-15 Khu 50ha, phường C, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 969132 do Ủy ban nhân dân Quận U cấp ngày 26/3/2018 đứng tên ông Lê Vĩnh P3; cập nhật sang tên ông Phạm Tiến D ngày 17/6/2020.
5. Về án phí:
Ông Phạm Tiến C và bà Vũ Thị Hồng H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 164.851.051 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông C đã nộp là 69.826.500 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0028213 ngày 19/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 2 (nay là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức). Ông C và bà H1 còn
phải nộp thêm số tiền án phí là 95.024.551 đồng (Chín mươi lăm triệu không trăm hai mươi bốn ngàn năm trăm năm mươi mốt đồng).
Ông Phạm Tiến C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí ông C đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0003163 ngày 28/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Ông K được miễn nộp tiền án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Kim Dung |
Bản án số 712/2024/DS-PT ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về đòi lại tài sản, yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu
- Số bản án: 712/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: đòi lại tài sản, yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đòi tài sản
