TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 710/2024/DS-PT. Ngày: 16/8/2024. V/v kiện: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Hữu Nhân;
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Hoàng Hoa.
Bà Doãn Thị Kim Thúy.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Thái – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 523/2024/TLPT-DS ngày 02/7/2024 về việc kiện: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 578/2024/DSST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 3908/2024/QĐ-PT ngày 17/7/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 11468/QĐ-PT ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1; Trụ sở: Số F Phố Q, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Hùng A.
Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1;
Đại diện theo ủy quyền: Bà Võ Thị B, sinh năm: 1983;
Chức vụ: Cán bộ xử lý nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1;
Địa chỉ: Tầng lửng, Tòa T, khu nhà cao tầng Saigon Pearl, số I N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo văn bản ủy quyền số 0784- 02/UQ-TCB ngày 23/10/2022).
- Bị đơn:
- Ông Lê Võ Duy K, sinh năm: 1978;
Địa chỉ: Số D đường B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
- Bà Trương Nữ Bích V, sinh năm: 1978;
Địa chỉ: Số C đường Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Ông Lê Võ Duy K và bà Trương Nữ Bích V.
- Ông Lê Võ Duy K, sinh năm: 1978;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 9 năm 2018, bản tự khai và các biên bản của Tòa án, nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 trình bày:
Ngày 22/8/2013, ông Lê Võ Duy K, bà Trương Nữ Bích V và Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 (sau đây gọi là Ngân hàng) đã ký Hợp đồng tín dụng số: 00449/HĐTD/TH-TN/TCB-PTG (sau đây gọi là hợp đồng tín dụng số 00449). Theo hợp đồng, Ngân hàng cho ông K, bà V vay số tiền 9.100.000.000 đồng để mua bất động sản; thời hạn vay là 300 tháng tính từ ngày nhận nợ; lãi suất vay áp dụng kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên cho đến ngày 05/3/2014 là 5.99%/năm; lãi suất áp dụng đối với các khoản vay cho thời gian tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 1 tháng một lần vào ngày 15 và bằng lãi suất tham chiếu cộng biên độ 5%/năm, lãi suất tham chiếu theo quy định tại 8.1.1 Điều 8 của hợp đồng tín dụng. Ông K, bà V đã ký khế ước nhận nợ và cam kết nhận nợ ngày 05/9/2013 xác nhận đã nhận số tiền vay 9.100.000.000 đồng.
Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên, ông K và bà V đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng hợp pháp thửa đất 509 tờ bản đồ số 19, tại phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi là thửa đất số 509) theo Hợp đồng thế chấp tài sản 00449/HĐTC/TH-TN/TCB ngày 23/9/2013 số công chứng 015218 tại văn phòng C2 (sau đây gọi là hợp đồng thế chấp số 00449), đăng ký thế chấp ngày 23/9/2013, số đăng ký 4472 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tại Quận G.
Ngày 28/11/2013, ông K ký tiếp đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 - chi nhánh T4 với hạn mức là 100.000.000 đồng để đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng sử dụng thẻ (không có tài sản thế chấp) ngày 25/9/2011; số tiền là 100.000.000 đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông K và bà V đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ. Ngân hàng đã gửi nhiều thông báo, công văn yêu cầu ông K và bà V trả nợ nhưng ông K và bà V đều không thực hiện yêu cầu, có biểu hiện kéo dài thời gian và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.
Ngày 30/10/2014, ông K và bà V đã bàn giao tài sản đảm bảo cho Ngân hàng. Như vậy, khoản vay của ông K, bà V không còn tài sản thế chấp và số dư nợ vẫn còn. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông K, bà V thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 1.770.420.084 đồng, tiền lãi (bao gồm cả tiền lãi phạt) tạm tính đến ngày 01/9/2017 là 5.258.433.672 đồng thời yêu cầu ông K, bà V tiếp tục phải trả tiền lãi theo lãi suất tại hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ.
Ngày 17/10/2020, Ngân hàng nộp đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông K, bà V phải trả tiền lãi phạt của Hợp đồng tín dụng số 00449 là 3.924.955.609 đồng và tiền lãi phạt về việc phát hành thẻ tín dụng là 319.547.426 đồng.
Đối với tài sản thế chấp là nhà đất 271/163/73 đường Q, Phường A, quận G thì chủ tài sản là ông Trương Nguyên V1 và bà Huyền Tôn Nữ Thị Tuyết M đã nộp số tiền 707.305.476 đồng để giải chấp tài sản. Số tiền này được nộp để trả nợ gốc là 602.780.000 đồng và nợ lãi là 104.525.476 đồng. Tài sản thế chấp này đảm bảo cho khoản vay của ông K, bà V theo Hợp đồng tín dụng số 00508/HĐTD/TH-TN/TCB-PTG ngày 10/12/2013, Hợp đồng thế chấp số công chứng 39759 quyển số 12/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25//12/2013, không liên quan đến hợp đồng tín dụng số 00449 và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/11/2013. Do nhầm lẫn nên trước đây người đại diện theo ủy quyển của ngân hàng là bà Hứa Lệ T đã khai tài sản này được thế chấp đảm bảo cho hợp đồng tín dụng số 00449.
Đối với tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở thửa 509 thì ông K, bà V đã giao cho Ngân hàng để bán đấu giá và ngân hàng đã ký hợp đồng với Công ty Đ để thực hiện việc đấu giá tài sản này; giá bán tài sản là 7.598.581.000 đồng. Các chi phí trong quá trình xử lý tài sản thế chấp gồm: Chi phí bán đấu giá là 46.747.162 đồng, thuế thu nhập cá nhân công ty B1 đã nộp thay chủ tài sản là 151.971.620 đồng, chi phí định giá tài sản trước khi đấu giá là 4.235.000 đồng. Số tiền còn lại là 7.395.627.128 đồng đã được trừ vào nợ gốc nên số nợ gốc ông K, bà V còn nợ ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số 00449 là 1.522.362.782 đồng.
Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Yêu cầu các bị đơn phải liên đới trách nhiệm trả nợ theo hợp đồng tín dụng số 00449/HĐTD/TH-TN/TCB-PTG ngày 22/8/2013 gồm: Nợ gốc là 1.522.362.782 đồng, lãi trong hạn là 3.197.049.517 đồng, lãi quá hạn tính đến ngày 05/6/2023 là 2.214.032.454 đồng, các bị đơn phải tiếp tục trả lãi từ ngày 06/6/2023 cho đến khi thi hành án xong theo lãi suất đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng.
- Yêu cầu ông K phải trả tiền nợ từ hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/11/2013 gồm: Nợ gốc là 99.028.123 đồng, phí sử dụng thẻ là 74.022.808 đồng, lãi trong hạn là 75.006.371 đồng và lãi quá hạn tính đến ngày 05/6/2023 là 250.808.829 đồng. Ông K tiếp tục trả lãi từ ngày 05/6/2023 cho đến khi thi hành án xong theo lãi suất đã thỏa thuận tại hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/11/2013.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ngân hàng trình bày: Tính đến ngày 03/4/2024, số nợ theo hợp đồng tín dụng số 00449 là 7.183.074.190 đồng; trong đó, nợ gốc là 1.522.362.782 đồng, nợ lãi trong hạn là 3.197.049.517 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.463.661.891 đồng. Số nợ thẻ tín dụng là 531.121.764 đồng; trong đó nợ gốc là 99.028.123 đồng, các khoản phí (phú rút tiền, phí thường niên, phí chậm thanh toán) là 74.022.808 đồng, lãi quá hạn là 283.064.462 đồng.
Ngân hàng không đồng ý với yêu cầu của bị đơn về việc cung cấp tờ trình vay vốn, hồ sơ chứng minh tài chính của bị đơn vì đây là các tài liệu nội bộ của ngân hàng; bị đơn đã ký hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, số tiền nợ đã được chuyển vào tài khoản của bị đơn thì bị đơn phải có nghĩa vụ thực hiện theo hợp đồng tín dụng. tại thời điểm vay, ông K là chủ doanh nghiệp, có hồ sơ chứng minh thu nhập nộp cho ngân hàng. Việc các bị đơn vay tiền giùm cho ai là quan hệ giữa bị đơn và bên thứ ba, không liên quan đến ngân hàng. Ngân hàng không giao nộp được tài liệu về việc chi trả chi phí thẩm định giá tài sản là 4.235.000 đồng. Ngân hàng đơn xác định bị đơn đã thanh toán tiền cho việc sử dụng thẻ tín dụng là 135.700.000 đồng.
Ngày 19/01/2021, ông K có nộp số tiền 50.000.000 đồng để thanh toán nợ nhưng do ông K không ghi nội dung nộp tiền thanh toán cho khoản nợ nào nên hệ thống của ngân hàng tự động trừ nào khoản nợ đến hạn trước là nợ của hợp đồng tín dụng số 00449. Cả ông K và bà V đã ký vào giấy bàn giao tài sản ngày 30/10/2014. Sau khi nhận tài sản bảo đảm, nguyên đơn đã thực hiện các thủ tục đăng ký xử lý tài sản bảo đảm, thuê tổ chức thẩm định tài sản. Ngày 29/3/2016, nguyên đơn và Công ty Đ đã ký hợp đồng đấu giá tài sản. Trong quá trình bán đấu giá, Công ty Đ đã thực hiện việc thông báo trên báo, niêm yết tại địa phương theo đúng quy định. Do ông K, bà V là chủ tài sản nên tại Báo cáo tư vấn về giá bất động sản ngày 17/9/2015 nên công ty thẩm định giá có ghi người yêu cầu thẩm định là ông K, bà V; thực chất người yêu cầu thẩm định là ngân hàng. Kết quả thẩm định, kết quả đấu giá tài sản thấp hơn kết quả thẩm định khi vay tài sản là do giá trị thị thường tại thời điểm định giá, đấu giá, không do nguyên đơn quyết định.
Ngân hàng rút yêu cầu khởi kiện về việc buộc bà V liên đới trách nhiệm với ông K trả nợ theo hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế, buộc bà V và ông K trả tiền lãi phạt của Hợp đồng tín dụng số 00449 là 3.924.955.609 đồng và tiền lãi phạt về việc phát hành thẻ tín dụng là 319.547.426 đồng. Ngân hàng chỉ yêu cầu các bị đơn trả nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn mà không yêu cầu trả lãi phạt.
Theo các bản tự khai, bị đơn là ông Lê Võ Duy K trình bày: Ông xác nhận ông và bà V đã ký hợp đồng tín dụng số 00449 với ngân hàng. Tuy bà V có ký tên vào hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ nhưng số nợ này là nợ riêng của ông, không liên quan đến bà V. Ông giao tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở thửa 509 cho ngân hàng để xử lý và không biết về kết quả, quá trình xử lý tài sản bảo đảm của ngân hàng. Ông yêu cầu ngân hàng xác định lại khoản tiền ông còn nợ, miễn lãi và không buộc bà V phải liên đới trách nhiệm trả nợ.
Tại biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 23/11/2023, ông K trình bày: Do ngân hàng không cung cấp được hợp đồng, hóa đơn giá trị gia tăng về việc ngân hàng thuê Công ty S thẩm định giá trị tài sản nên ông đề nghị Tòa án không chấp nhận chứng cứ là Báo cáo tư vấn về giá bất động sản ngày 17/9/2015. Ông không chấp nhận số nợ gốc mà ngân hàng đưa ra vì việc thanh lý tài sản, đấu giá tài sản của ngân hàng không khách quan. Ông xác nhận số tiền vay đã được chuyển vào tài khoản của ông và ông có ký ủy nhiệm chi đề ngày 05/9/2012 để chuyển tiền vào tài khoản của ông Nguyễn Văn T1 “Thanh toán tiền mua nhà”. Giấy đề nghị giải ngân, giấy ủy nhiệm chi là do ông ký khống theo yêu cầu của bà C – giám đốc chi nhánh ngân hàng. Ông không có yêu cầu gì đối với bà C, ông Hoàng Ngọc T2 trong vụ án này. Ông sẽ yêu cầu cơ quan công an điều tra, giải quyết việc bà C, ông Hoàng Ngọc T2 lừa đảo ông, yêu cầu ông T2, bà C bồi thường cho ông bằng một vụ kiện khác.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông K trình bày: Theo bảng sao kê, ông đã nộp vào tài khoản để thanh toán nợ thẻ tín dụng là 135.000.000 đồng nên theo ông, số nợ gốc còn lại phải là 80.408.067 đồng. Ông đề nghị ngân hàng cung cấp hồ sơ chứng minh thu nhập của ông và bà V trong hồ sơ vay vốn. Ông xác định ngày 19/01/2021 ông có nộp số tiền 50.000.000 đồng vào tài khoản với mục đích thanh toán nợ thẻ tín dụng nhưng do thiếu hiểu biết nên ông không ghi nội dung này vào phiếu nộp tiền. Ông không có nhu cầu vay tiền mà do được bà C - giám đốc chi nhánh ngân hàng nhờ nên ông mới ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp. Mặc dù ký khống vào giấy ủy nhiệm chi nhưng vì vay giùm nên ông cũng biết việc số tiền vay sẽ được chuyển cho người khác.
Do kết quả thẩm định giá tài sản ban đầu là 13.000.000.000 đồng nên khi tự nguyện giao tài sản cho ngân hàng, ông không còn quan tâm tới việc xử lý tài sản nữa. Ông cho rằng tài sản bảo đảm hoàn toàn đủ để trả nợ. Ngân hàng không thông báo về việc bán đấu giá, kết quả xử lý nợ sau khi đấu giá cho ông. Ông yêu cầu ngân hàng trả lại tài sản bảo đảm cho ông để tiến hành xử lý tài sản bảo đảm lại theo đúng quy định của pháp luật. Ông bàn giao tài sản cho ngân hàng từ ngày 30/10/2014 nhưng cho đến năm 2016 ngân hàng mới cho đấu giá tài sản. Trong khoảng thời gian này khoản tiền lãi cho số tiền vay vẫn được tính là không hợp lý. Việc chậm trễ đấu giá tài sản dẫn đến giá bán tài sản thấp là lỗi của ngân hàng.
Tại bản khai, đơn khởi kiện, bị đơn là bà Trương Nữ Bích V: Tháng 8/2013, bà và ông K đã ly thân, chuẩn bị ly hôn và không còn liên quan với nhau về kinh tế. Tháng 3/2015, bà và ông K ly hôn. Do quen biết với bà Phạm Thị Ngọc C1 là giám đốc ngân hàng TMCP K1 – chi nhánh P, ông K đứng tên giùm ông Hoàng Ngọc T2 – là bạn của bà C1 để mua thửa đất số 509, thời hạn đứng tên giùm là 12 tháng. Toàn bộ tiền đặt cọc cho bên bán, tiền trả nợ cho ngân hàng sẽ do ông T2 chi trả. Ngày 06/9/2013, ông T2 đã soạn thảo hợp đồng mua bán nhà đất với nội dung ông T2 nhận chuyển nhượng lại thửa đất này từ bà và ông K, thanh toán trong 12 tháng, số tiền tương đương với số tiền đã vay của ngân hàng được thế chấp bằng thửa đất này. Tuy nhiên, khi bà và ông K ký tên và chuyển lại hợp đồng cho ông T2 thì ông T2 không trả lại hợp đồng này. Khi vay tiền tại ngân hàng, ông K đã yêu cầu xác định thửa đất số 509 là tài sản riêng của ông K và cá nhân ông K sẽ vay tiền, không liên quan đến bà nhưng ngân hàng không đồng ý vì ông K không thể chứng minh có đủ thu nhập để trả nợ cho khoản vay 9.100.000.000 đồng. Do ông K đã ký hợp đồng chuyển nhượng số 03411 ngày 05/9/2013 để nhận chuyển nhượng thửa đất này nên dưới sức ép của ngân hàng, bà đã ký tên vào hợp đồng tín dụng số 00449. Việc ông K đứng tên vay tiền giùm cho ông T2 được thể hiện bằng việc ông T2 đã cho nhân viên là Phạm Minh T3 chuyển tiền trả nợ ngân hàng vào tài khoản của ông K ngày 06/11/2013 và ngày 06/12/2013. Từ tháng 12/2013, ông T2 không trả tiền nợ cho ngân hàng nữa.
Vì vậy, bà C1 đã đưa tiền cho bố mẹ bà là ông Trương Nguyên V1 và bà Huyền Tôn Nữ Thị Tuyết M để giải chấp khoản vay tại Ngân hàng Á, chuyển sang vay và thế chấp nhà đất 271/163/73 Q, Phường A, quận G tại ngân hàng TMCP K1 – chi nhánh P ngày 25/12/2013. Sau đó, khi bố mẹ bà nộp tiền gốc, lãi hàng tháng cho ngân hàng thì ngân hàng lại sử dụng số tiền này để trừ vào nợ vay của hợp đồng tín dụng số 00449 dù hợp đồng tín dụng của bố mẹ bà không liên quan đến hợp đồng tín dụng số 00449. Bố mẹ bà đã phải tất toán với ngân hàng, nộp tiền để lấy lại tài sản thế chấp là nhà đất 271/163/73 Q, Phường A, quận G.
Tài sản bảo đảm là thửa đất số 509 được giao cho ngân hàng để xử lý nợ. Ngân hàng đã tiến hành thanh lý tài sản và thu về số tiền 7.577.632.220 đồng, chỉ bằng 58% giá trị tài sản tại thời điểm thẩm định giá khi vay. Bà đã làm việc với ông T2, ông K và ông T2 xác nhận việc ông T2 nhờ ông K đứng tên vay tiền ngân hàng giùm. Ông K cũng làm văn bản cam kết với nội dung việc vay tiền ngân hàng là trách nhiệm cá nhân của ông K, không liên quan đến bà, số tiền kinh doanh của ông K không đóng góp vào tài sản chung của gia đình. Như vậy, hợp đồng tín dụng số 00449 không liên quan đến bà. Bà yêu cầu Tòa án không đưa bà vào tham gia tố tụng trong vụ án này đồng thời bà khởi kiện yêu cầu ngân hàng bồi thường tổn thất về vật chất là khoản tiền lãi quá hạn mà bố mẹ bà phải đóng để xóa thế chấp, lấy lại tài sản bảo đảm và bồi thường tổn thất tinh thần cho bố mẹ bà, bản thân bà và các con của bà.
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 29/9/2023 và tại biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 23/11/2023, bà V trình bày: Bà rút lại yêu cầu yêu cầu ngân hàng bồi thường tổn thất về vật chất là khoản tiền lãi quá hạn mà bố mẹ bà phải đóng để xóa thế chấp, lấy lại tài sản bảo đảm và bồi thường tổn thất tinh thần cho bố mẹ bà, bản thân bà và các con của bà. Bà không có yêu cầu phản tố nào trong vụ án này.
Tại đơn tường trình ngày 25/3/2024 và tại phiên tòa sơ thẩm, bà V trình bày: Bà có ký giấy đề nghị vay vốn, giấy đề nghị giải ngân, khế ước nhận nợ, hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp, giấy bàn giảo tài sản nhưng bà không làm hồ sơ chứng minh thu nhập để vay ngân hàng. Bà yêu cầu ngân hàng cung cấp hồ sơ tài chính ban đầu của bà. Cả bà và ông K đều không đủ thu nhập để có thể vay số tiền 9.100.000.000 đồng nên việc ngân hàng cho ông bà vay tiền là không đúng quy định. Bà yêu cầu Tòa án hủy bỏ hợp đồng tín dụng số 00449, hợp đồng thế chấp số 00449/HĐTC/TH-TN/TCB ngày 23/9/2013 vì đây là hợp đồng là vô hiệu do bà bị ông K đe dọa, ép buộc ký hợp đồng và hồ sơ vay bị làm giả hoàn toàn. Bà không có chứng cứ chứng minh việc ông K đe dọa, ép buộc bà ký hợp đồng. Bà không liên quan đến vụ án này nên việc ngân hàng khởi kiện bà, bắt buộc bà phải đóng tiền lãi quá hạn để giải chấp căn nhà số B Q, Phường A, quận G đã gây thiệt hại cho bà.
Vì vậy, bà có yêu cầu phản tố buộc ngân hàng phải bồi thường tổn thất tinh thần cho bà và hai con là 100.000.000 đồng, trả lại cho bà khoản tiền lãi quá hạn đã đóng cho hợp đồng tín dụng số 00508/HĐTD/TH-TN/TCB-PTG ngày 10/12/2013 là 104.525.476 đồng. Bà xác định đây là yêu cầu phản tố phát sinh sau khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử. Trước đó, bà không có yêu cầu phản tố nào. Ngân hàng không thông báo cho bà về quá trình xử lý, kết quả đấu giá tài sản. Giá trị tài sản trước khi cho vay được thẩm định là 65.000.000 đồng/m2, giá đất theo bảng giá đất của nhà nước thời điểm này là 7.700.000 đồng/m2 nhưng tại thời điểm năm 2015, giá đất theo bảng giá đất của nhà nước đã tăng gấp đôi nhưng kết quả thẩm định giá chỉ có 46.200.000 đồng/m2, giá trị tài sản giảm chỉ còn 71% là mâu thuẫn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 578/2024/DSST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đã xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1:
- Buộc ông Lê Võ Duy K và bà Trương Nữ Bích V phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 tiền nợ tính đến ngày 03/4/2024 là 7.171.985.628 (Bảy tỉ một trăm bảy mươi mốt triệu chín trăm tám mươi làm nghìn sáu trăm hai mươi tám) đồng theo Hợp đồng tín dụng số 00449/HĐTD/TH-TN/TCB-PTG ngày 22/8/2013. Trong đó, nợ gốc là 1.518.127.782 (Một tỉ năm trăm mười tám triệu một trăm hai mươi bảy nghìn bảy trăm tám mươi hai) đồng, tiền lãi trong hạn là 3.197.049.517 (Ba tỉ một trăm chín mươi bảy triệu không trăm bốn mươi chín nghìn năm trăm mười bảy) đồng, tiền lãi quá hạn tính đến ngày 03/4/2024 là 2.456.808.329 (Hai tỉ bốn trăm năm mươi sáu triệu tám trăm linh tám nghìn ba trăm hai mươi chín) đồng.
Ông Lê Võ Duy K và bà Trương Nữ Bích V còn phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K1 tiền lãi theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 00449/HĐTD/TH-TN/TCB-PTG ngày 22/8/2013 từ ngày 04/4/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ.
- Buộc ông Lê Võ Duy K phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K1 số tiền tính đến ngày 03/4/2024 là 531.121.764 (Năm trăm ba mươi mốt triệu một trăm hai mươi mốt nghìn bảy trăm sáu mươi bốn) đồng theo hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/11/2013. Trong đó, nợ gốc là 99.028.123 (Chín mươi chín triệu không trăm hai mươi tám nghìn một trăm hai mươi ba) đồng, tiền phí các loại là 74.022.808 (Bảy mươi bốn triệu không trăm hai mươi hai nghìn tám trăm linh tám) đồng, tiền lãi trong hạn là 75.006.371 (Bảy mươi lăm triệu không trăm linh sáu nghìn ba trăm bảy mươi mốt) đồng, tiền lãi quá hạn là 283.064.462 (Hai trăm tám mươi ba triệu không trăm sáu mươi bốn nghìn bốn trăm sáu mươi hai) đồng.
Ông Lê Võ Duy K còn phải tiếp tục trả lãi, phí cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K1 tiền lãi và phí phát sinh kể từ ngày 04/4/2024 theo mức lãi suất, phí đã thỏa thuận tại hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/11/2013.
- Buộc ông Lê Võ Duy K và bà Trương Nữ Bích V phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 tiền nợ tính đến ngày 03/4/2024 là 7.171.985.628 (Bảy tỉ một trăm bảy mươi mốt triệu chín trăm tám mươi làm nghìn sáu trăm hai mươi tám) đồng theo Hợp đồng tín dụng số 00449/HĐTD/TH-TN/TCB-PTG ngày 22/8/2013. Trong đó, nợ gốc là 1.518.127.782 (Một tỉ năm trăm mười tám triệu một trăm hai mươi bảy nghìn bảy trăm tám mươi hai) đồng, tiền lãi trong hạn là 3.197.049.517 (Ba tỉ một trăm chín mươi bảy triệu không trăm bốn mươi chín nghìn năm trăm mười bảy) đồng, tiền lãi quá hạn tính đến ngày 03/4/2024 là 2.456.808.329 (Hai tỉ bốn trăm năm mươi sáu triệu tám trăm linh tám nghìn ba trăm hai mươi chín) đồng.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 về việc yêu cầu ông Lê Võ Duy K và bà Trương Nữ Bích V phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 00449/HĐTD/TH-TN/TCB-PTG ngày 22/8/2013 là 11.088.562 (Mười một triệu không trăm tám mươi tám nghìn năm trăm sáu mươi hai) đồng.
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 về việc yêu cầu bà Trương Nữ Bích V liên đới trách nhiệm với ông Lê Võ Duy K trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 theo hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/11/2013.
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 về việc yêu cầu ông Lê Võ Duy K và bà Trương Nữ Bích V liên đới trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 tiền lãi phạt của Hợp đồng tín dụng số 00449 là 3.924.955.609 (Ba tỉ chín trăm hai mươi bốn triệu chín trăm năm mươi lăm nghìn sáu trăm linh chín đồng) và tiền lãi phạt theo hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/11/2013 là 319.547.426 (Ba trăm mười chín triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn bốn trăm hai mươi sáu) đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 23/4/2024, ông Lê Võ Duy K kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm;
Ngày 22/4.2024, bà Trương Nữ Bích V kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không buộc bà V có trách nhiệm cùng trả nợ vay theo hợp đồng thế chấp số 00449/HĐTC-BDS/TCB ngày 23/9/2013 và hợp đồng tín dụng số 00449/HĐTD/TH-TN/TCB-PTG ngày 22/8/2013 giửa ông Lê Võ Duy K và Ngân hàng CP K1.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; nguyên đơn không chấp nhận kháng cáo và yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc chấp hành pháp luật tố tụng và nội dung:
- - Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ kháng cáo của các đương sự, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 578/2024/DSST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Đơn kháng cáo của các đương sự là hợp lệ và trong thời hạn luật định; việc nộp tiền tạm ứng án phí đúng trong thời hạn luật định nên có căn cứ để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền nợ theo hợp đồng tín dụng, bị đơn là ông Lê Võ Duy K cư trú tại quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và tại thời điểm khởi kiện thì nguyên đơn đã thành lập nhiều chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 tại quận B nên việc khởi kiện của nguyên đơn là đúng theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng về Tòa án có thẩm quyền giải quyết khi phát sinh tranh chấp hợp đồng tín dụng. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh là đúng pháp luật.
- Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bà V liên đới trách nhiệm với ông K trả nợ số tiền nợ theo hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/11/2013; rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông K, bà V phải trả tiền lãi phạt của Hợp đồng tín dụng số 00449 là 3.924.955.609 đồng và tiền lãi phạt của hợp đồng phát hành thẻ tín dụng là 319.547.426 đồng. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện nên căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện nguyên đơn đã rút là có căn cứ và đúng pháp luật.
- Về việc xác định tư cách đương sự:
Bà V yêu cầu Tòa án không đưa bà vào tham gia tố tụng. Tại đơn khởi kiện ngày 07/9/2018, nguyên đơn khởi kiện đối với ông Lê Võ Duy K và bà Trương Nữ Bích V nên căn cứ khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án cấp sơ thẩm xác định tư cách tham gia tố tụng của bà Trương Nữ Bích V là bị đơn trong vụ án là đúng quy định nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà bà Trương Nữ Bích V.
- Về việc đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng:
Bà V, ông K trình bày về việc ông bà ký hợp đồng tín dụng số 00449 là thực hiện theo yêu cầu của bà Phạm Thị Ngọc C1 là giám đốc ngân hàng TMCP K1 – chi nhánh P, để ông K vay tiền ngân hàng cho ông Hoàng Ngọc T2, tài sản thế chấp là thửa đất số 559 do ông T2 mua, ông K chỉ đứng tên giùm. Bà V, ông K đều biết và chấp nhận đứng tên giùm vay tiền, thế chấp tài sản này. Các đương sự trong vụ án không yêu cầu Tòa án giải quyết về giao dịch giữa bà Phạm Thị Ngọc C1, ông Hoàng Ngọc T2 và ông Lê Võ Duy K, không có yêu cầu gì đối với bà Phạm Thị Ngọc C1, ông Hoàng Ngọc T2 nên căn cứ khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa các ông bà này vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là đúng quy định.
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và kháng cáo của ông Lê Võ Duy K và bà Trương Nữ Bích V thì:
- Ông K và bà V cùng xác nhận các ông bà đã ký tên vào giấy đề nghị vay vốn, giấy đề nghị giải ngân, khế ước nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 05/9/2013, hợp đồng tín dụng số 00449, hợp đồng thế chấp số 00449 để vay số tiền 9.100.000.000 đồng của ngân hàng. Bà V cho rằng bà bị đe dọa, ép buộc phải ký hợp đồng tín dụng số 00449 vì lúc này, ông K đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 03411 ngày 05/9/2013 để nhận chuyển nhượng thửa đất số 509 giấy đề nghị vay vốn được ký ngày 01/8/2013, hợp đồng tín dụng số 00449 được ký ngày 22/8/2013, trước ngày ông K ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 03411. Do bà V không giao nộp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho việc bà bị lừa dối, cưỡng ép ký hợp đồng tín dụng số 00449 và khế ước nhận nợ theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nên việc bà V cho rằng khi ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp bị lừa dối ép buộc là không có căn cứ chấp nhận.
- Bà V, ông K trình bày cả hai biết về việc ông K đứng tên bên nhận chuyển nhượng thửa đất 559 để vay tiền giùm ông Hoàng Ngọc T2, sử dụng chính tài sản này để thế chấp cho ngân hàng nhưng vẫn ký vào mục bên vay trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và cam kết trả nợ chứng tỏ bà V, ông K biết rõ về quyền và nghĩa vụ của bên vay khi tham gia hợp đồng tín dụng, tự nguyện tham gia hợp đồng này.
- Căn cứ Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, khoản 1 Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận thì lãi suất các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng là phù hợp với quy định của pháp luật. Các thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng có nội dung và mục đích không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, Hợp đồng tín dụng số 00449, hợp đồng thế chấp số 00449 có đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005 nên có hiệu lực pháp luật nên các bên tham gia hợp đồng có nghĩa vụ thực hiện các thỏa thuận tại hợp đồng. Số tiền vay 9.100.000.000 đồng đã được chuyển vào tài khoản của ông K và sau đó được chuyển đến tài khoản của ông Nguyễn Văn T1 theo giấy ủy nhiệm chi đề ngày 05/9/2012 ông K đã ký với nội dung “Thanh toán tiền mua nhà”. Như vậy, bên vay đã nhận đủ tiền vay theo hợp đồng và việc bên vay chuyển số tiền này cho người khác không làm thay đổi nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo hợp đồng tín dụng.
- Ngày 30/10/2014, bà V, ông K đã bàn giao tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa đất 509 cho nguyên đơn. Ngày 29/3/2016, nguyên đơn và Công ty Đ đã ký hợp đồng đấu giá tài sản số 32/16/HĐ-BĐG. Công ty Đ đã tổ chức bán đấu giá quyền sử dụng đất thửa đất 509 theo đúng quy định về đấu giá tài sản tại Chương IV Nghị định số: 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản. Số tiền bán tài sản đấu giá thu về là 7.598.581.000 đồng. Các chi phí trong quá trình xử lý tài sản thế chấp gồm: Chi phí bán đấu giá là 46.747.162 đồng, thuế thu nhập cá nhân công ty bán đấu giá đã nộp thay ông K, bà V là 151.971.620 đồng.
Nguyên đơn trình bày đã thuê Công ty TNHH MTV S thực hiện việc thẩm định giá tài sản trước khi đấu giá nhưng không giao nộp được tài liệu, chứng cứ xác định chi phí định giá tài sản là 4.235.000 nên không có cơ sở buộc các bị đơn phải chịu chi phí này. Bà V, ông K cho rằng kết quả đấu giá không hợp lý vì số tiền đấu giá quá thấp so với giá trị tài sản được thẩm định trước khi vay ngân hàng trong khi giá đất của nhà nước lại tăng nhưng kết quả đấu giá tài sản không phụ thuộc vào kết quả thẩm định tài sản trước khi thế chấp, không phụ thuộc vào bảng giá đất nhà nước ban hành nên đây không phải căn cứ để xác định việc tổ chức đấu giá tài sản không đúng quy định pháp luật. Căn cứ Điều 351, Điều 355 Bộ luật Dân sự 2005, điểm 5.5.1, khoản 5.5 Điều 5 của Hợp đồng thế chấp tài sản số 00449/HĐTC-BĐS/TCB ngày 23/9/2013, số tiền thu được từ xử lý tài sản thế chấp sẽ được dùng để trừ các khoản chi phí liên quan đến định giá, đấu giá tài sản, thanh toán nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng số 00449.
Tính đến thời điểm ngày 21/11/2016 là thời điểm hoàn tất việc đấu giá tài sản, tiến hành cấn trừ nợ thì ông K, bà V còn nợ Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số 00449 là: Nợ gốc: 8.917.990.000 đồng, tiền lãi là 4.799.766.261 đồng. Sau khi trừ đi số tiền thu được từ việc đấu giá tài sản, số nợ gốc ông K, bà V còn nợ ngân hàng là 1.518.127.782 đồng. Tính đến ngày 03/4/2024, số tiền nợ lãi của hợp đồng tín dụng số 00449 là: Lãi trong hạn: 3.197.049.517 đồng, lãi quá hạn là 2.456.808.329 đồng; tổng nợ gốc, lãi là 7.171.985.628 đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 474 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 9, khoản 10.2 Điều 10 Hợp đồng tín dụng số 00449, có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu các bị đơn trả số tiền 11.088.562 đồng theo nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm là phù hợp.
- Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn – ông Lê Võ Duy K trả tiền nợ theo hợp đồng thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/11/2013.
- Căn cứ Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/11/2013, người đề nghị cấp thẻ là ông Lê Võ Duy K, theo ông K thì ông đã sử dụng thẻ tín dụng quốc tế do Ngân hàng cung cấp để thanh toán, rút tiền mặt. Căn cứ sao kê ngân hàng lập và được ông K thừa nhận về việc thực hiện các giao dịch được liệt kê trong bảng sao kê thì tính đến ngày 03/4/2024, tổng giao dịch thanh toán, rút tiền ông K đã thực hiện là 215.408.067 đồng, phí phát sinh là 76.171.701 đồng, lãi trong hạn là 92.177.534 đồng, lãi quá hạn là 238.064.462 đồng. Ông K đã nộp số tiền 135.700.000 đồng để thanh toán nợ gốc, lãi nên số tiền ông K hiện còn nợ ngân hàng là: Nợ gốc: 99.028.123 đồng, nợ phí các loại gồm phí rút tiền, phí thường niên, phí chậm thanh toán là 74.022.808 đồng, nợ lãi trong hạn là 75.006.371 đồng, nợ lãi quá hạn là 283.064.462 đồng, tổng số nợ là 531.121.764 đồng.
- Căn cứ khoản 1 Điều 474; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 4 mục K Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/11/2013 quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ thẻ thì “chủ thẻ có trách nhiệm thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho ngân hàng các khoản vay, lãi, phí phát sinh do việc sử dụng thẻ theo sao kê ngân hàng lập và gửi cho chủ thẻ”, ông K có nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, phí cho nguyên đơn theo hợp đồng tín dụng đã ký nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
- Về yêu cầu phản tố của bị đơn
Tại Tòa án cấp sơ thẩm, bà V yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy bỏ hợp đồng tín dụng số 00449 và hợp đồng thế chấp số 00449 là đây là hợp đồng vô hiệu do giả tạo, do bị đe dọa, ép buộc. Do đây chỉ là ý kiến phản đối của bà V đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Tòa án cấp sơ thẩm không thụ lý là có căn cứ. Đối với yêu cầu buộc nguyên đơn phải bồi thường tổn thất tinh thần cho bà và hai con là 100.000.000 đồng, trả lại cho bà khoản tiền lãi quá hạn đã đóng cho hợp đồng tín dụng số 00508/HĐTD/TH-TN/TCB-PTG ngày 10/12/2013 là 104.525.476 đồng thì tại phiên tòa sơ thẩm ngày 29/9/2023 và tại biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 23/11/2023, bà V rút lại yêu cầu yêu cầu phản tố nêu trên. Hơn nữa, bà V chưa thực hiện các thủ tục tố tụng liên quan đến yêu cầu phản tố; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết yêu cầu phản tố của bà V trong vụ án này là đúng pháp luật. Do đó, bà V được quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.
- Với nhận định nêu trên, Tòa án cấp phúc thẩm nhận thấy việc xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm đã kiểm tra, đánh giá chứng cứ một cách toàn diện và có căn cứ. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn nên cần bác kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:
- - Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận là 554.428 đồng.
- - Bị đơn ông Lê Võ Duy K và bà Trương Nữ Bích V liên đới trách nhiệm chịu án phí sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho nguyên đơn theo hợp đồng tín dụng số 00449 là 115.171.986 đồng.
- - Ông Lê Võ Duy K phải chịu án phí sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho nguyên đơn theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng là 25.244.871 đồng.
- - Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án;
- - Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Võ Duy K và bà Trương Nữ Bích V. Giữ nguyên bản án sơ thẩm, xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1:
- Buộc ông Lê Võ Duy K và bà Trương Nữ Bích V phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 tiền nợ tính đến ngày 03/4/2024 là 7.171.985.628 đồng (Bảy tỉ một trăm bảy mươi mốt triệu chín trăm tám mươi lăm nghìn sáu trăm hai mươi tám đồng) theo Hợp đồng tín dụng số 00449/HĐTD/TH-TN/TCB-PTG ngày 22/8/2013. Trong đó, nợ gốc là 1.518.127.782 đồng (Một tỉ năm trăm mười tám triệu, một trăm hai mươi bảy nghìn bảy trăm tám mươi hai đồng); tiền lãi trong hạn là 3.197.049.517 đồng (Ba tỉ một trăm chín mươi bảy triệu không trăm bốn mươi chín nghìn năm trăm mười bảy đồng), tiền lãi quá hạn tính đến ngày 03/4/2024 là 2.456.808.329 đồng(Hai tỉ bốn trăm năm mươi sáu triệu tám trăm linh tám nghìn ba trăm hai mươi chín đồng).
Ông Lê Võ Duy K và bà Trương Nữ Bích V còn phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K1 tiền lãi theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 00449/HĐTD/TH-TN/TCB-PTG ngày 22/8/2013 từ ngày 04/4/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ.
- Buộc ông Lê Võ Duy K phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K1 số tiền tính đến ngày 03/4/2024 là 531.121.764 đồng (Năm trăm ba mươi mốt triệu một trăm hai mươi mốt nghìn bảy trăm sáu mươi bốn đồng) theo hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/11/2013. Trong đó, nợ gốc là 99.028.123 đồng (Chín mươi chín triệu không trăm hai mươi tám nghìn một trăm hai mươi ba đồng), tiền phí các loại là 74.022.808đồng (Bảy mươi bốn triệu không trăm hai mươi hai nghìn tám trăm linh tám đồng), tiền lãi trong hạn là 75.006.371 đồng (Bảy mươi lăm triệu không trăm linh sáu nghìn ba trăm bảy mươi mốt đồng), tiền lãi quá hạn là 283.064.462 đồng (Hai trăm tám mươi ba triệu không trăm sáu mươi bốn nghìn bốn trăm sáu mươi hai đồng).
Ông Lê Võ Duy K còn phải tiếp tục trả lãi, phí cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K1 tiền lãi và phí phát sinh kể từ ngày 04/4/2024 theo mức lãi suất, phí đã thỏa thuận tại hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/11/2013.
- Buộc ông Lê Võ Duy K và bà Trương Nữ Bích V phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 tiền nợ tính đến ngày 03/4/2024 là 7.171.985.628 đồng (Bảy tỉ một trăm bảy mươi mốt triệu chín trăm tám mươi lăm nghìn sáu trăm hai mươi tám đồng) theo Hợp đồng tín dụng số 00449/HĐTD/TH-TN/TCB-PTG ngày 22/8/2013. Trong đó, nợ gốc là 1.518.127.782 đồng (Một tỉ năm trăm mười tám triệu, một trăm hai mươi bảy nghìn bảy trăm tám mươi hai đồng); tiền lãi trong hạn là 3.197.049.517 đồng (Ba tỉ một trăm chín mươi bảy triệu không trăm bốn mươi chín nghìn năm trăm mười bảy đồng), tiền lãi quá hạn tính đến ngày 03/4/2024 là 2.456.808.329 đồng(Hai tỉ bốn trăm năm mươi sáu triệu tám trăm linh tám nghìn ba trăm hai mươi chín đồng).
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 về việc yêu cầu ông Lê Võ Duy K và bà Trương Nữ Bích V phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 00449/HĐTD/TH-TN/TCB-PTG ngày 22/8/2013 là 11.088.562 đồng (Mười một triệu không trăm tám mươi tám nghìn năm trăm sáu mươi hai đồng).
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 về việc yêu cầu bà Trương Nữ Bích V liên đới trách nhiệm với ông Lê Võ Duy K trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 theo hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/11/2013.
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 về việc yêu cầu ông Lê Võ Duy K và bà Trương Nữ Bích V liên đới trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 tiền lãi phạt của Hợp đồng tín dụng số 00449 là 3.924.955.609 đồng (Ba tỉ chín trăm hai mươi bốn triệu chín trăm năm mươi lăm nghìn sáu trăm linh chín đồng) và tiền lãi phạt theo hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/11/2013 là 319.547.426 đồng (Ba trăm mười chín triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn bốn trăm hai mươi sáu đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
- Ông Lê Võ Duy K và bà Trương Nữ Bích V phải liên đới chịu án phí sơ thẩm là 115.171.986 đồng (Một trăm mười lăm triệu một trăm bảy mươi mốt nghìn chín trăm tám mươi sáu đồng).
- Ông Lê Võ Duy K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 25.244.871 đồng (Hai mươi lăm triệu hai trăm bốn mươi bốn nghìn tám trăm bảy mươi mốt đồng).
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 554.428 đồng (Năm trăm năm mươi bốn nghìn bốn trăm hai mươi tám đồng) nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 đã nộp là 57.514.000 đồng (Năm mươi bảy triệu năm trăm mười bốn nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2017/0005315 ngày 29/8/2018. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 số tiền 56.959.572 đồng (Năm mươi sáu triệu chín trăm năm mươi chín nghìn năm trăm bảy mươi hai đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm.
- Buộc bị đơn ông Lê Võ Duy K và bà Trương Nữ Bích V mỗi người phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng do bà Trương Nữ Bích V đã nộp theo biên lai thu số 0023809 ngày 17/5/2024 và số tiền 300.000đồng do ông Lê Võ Duy K đã nộp theo biên lai thu số 0023810 ngày 17/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Hữu Nhân |
Bản án số 710/2024/DS-PT ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 710/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
