|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY - HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 71/2024/HSST Ngày: 31/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Ngọc Hưng.
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Huệ, ông Phùng Khắc Tuấn
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Ngọc Thắng - Thư ký Toà án nhân dân Thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 69/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Hoàng Văn Q; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 12 tháng 9 năm 1985; Nơi thường trú: Thôn C, xã C, huyện B, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hoàng Văn L, sinh năm: 1960 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1953; Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1975; Con: 01 con, sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 29/9/2005, Bản án số 410/2005/HSST của TAND TP Biên Hòa, Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (Đã được xóa án tích theo Nghị quyết 33 của Quốc hội ngày 19/6/2009). Ngày 12/7/2007, Bản án số 58/2007/HSST của TAND huyện Ba Vì, Hà Nội xử phạt 38 tháng tù giam về tội Cướp tài sản (Đã được xóa án tích); Ngày 15/8/2012, Bản án số 162/2012/HSST của TAND thị xã Sơn Tây, Hà Nội xử phạt 15 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (Đã được xóa án tích); Ngày 17/2/2015, Bản án số 25/2015/HSST của TAND thị xã Sơn Tây, Hà Nội xử phạt 08 năm tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong về địa phương ngày 02/11/2020 (Đã được xóa án tích); Bị cáo Hoàng Văn Q bị bắt từ ngày 27/3/2024, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 01 Công an T2. “Có mặt”
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1996 Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện B, Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 10 phút ngày 27/3/2024, tại trước số nhà C đường P, phường P, TX S, Công an phường V phối hợp với Công an phường P kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang đối tượng Hoàng Văn Q, đang có hành vi tang trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: 01 gói nhỏ ni long màu xanh kích thước 1x1 cm, bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng chứ chất bột màu trắng trên tay trái của Q; Q khai đây là ma túy vừa mua được với giá 300.000 đồng; 01 xe đạp điện màu trắng, khung xe có chữ Yamaha, có 1 giỏ phía sau; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel vỏ màu đen, viền màu đỏ, đã cũ; số IMEI: 355634049077222, IMEI: 357620048578227.
Tại cơ quan điều tra Hoàng Văn Q khai nhận sáng ngày 27/3/2024, Q muốn sử dụng ma túy nên đã sử dụng điện thoại M có số 0963.871.xxx gọi đến số điện thoại 0974.195.xxx của 1 người đàn ông không quen biết để hỏi mua 1 gói ma túy 300.000 đồng. Người đó hẹn Q ra khu vực đường mới phường V để mua bán ma túy. Sau đó, Q đi xe đạp điện đến khu vực đường mới thuộc phường V và gặp 1 người đàn ông mặc quần áo đen, đeo khẩu trang kín đi xe máy kiểu dáng Honda Dream. Q hỏi mua ma túy thì anh ta đưa cho Q 01 gói ni lông màu xanh không rõ hình dạng, Q cầm ma túy ở tay trái cất vào túi quần và đưa cho anh ta số tiền 300.000 đồng. Khi Q về đến trước số nhà C đường P thì bị kiểm tra và bắt quả tang.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T3 đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 537 ngày 27/3/2024 trưng cầu Phòng K Công an T2 giám định chất ma tuý đối với tang vật nghi là ma túy thu của Hoàng Văn Q. Ngày 05/4/2024, Phòng K Công an T2 có Kết luận giám định số: 2424/KL-KTHS kết luận:
“Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu vàng (bọc ngoài bằng ni lông màu xanh) khối lượng 0,212 gam là ma túy loại Heroine./.”
Về nguồn gốc gói ma túy: xác mịnh số điện thoại 0974.195.xxx Q gọi mua ma túy được đăng ký người tên Nguyễn Thị M1 (SN 12/01/1995, địa chỉ: Thị trấn H, huyện H, Thanh Hóa, số CMND: [...]). Qua xác minh tại thị trấn H, huyện H, Thanh Hóa không có công dân nào có tên Nguyễn Thị M1 có thông tin nêu trên. Về người đàn ông bán ma túy cho Hoàng Văn Q, do Q mới gặp lần đầu, không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu, vì vậy không có căn cứ điều tra làm rõ.
Đối với chiếc xe đạp điện màu sơn trắng đã cũ, xác định là tài sản của chị Nguyễn Thị H, là em dâu của Hoàng Văn Q. Ngày 27/3/2024, chị H cho Q mượn xe đạp điện nhưng không biết việc Q sử dụng xe để đi mua ma túy.
Về vật chứng: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng KTHS – C bên ngoài có chữ kí của đối tượng Hoàng Văn Q; đồng chí Nguyễn Thành T1 - Cán bộ Công an phường V, đồng chí Phạm Trần N1 - Giám định viên phòng PC09-CATP Hà Nội; 01(một) xe đạp điện màu trắng, đã cũ, khung xe có chữ Yamaha ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel vỏ màu đen, viền màu đỏ, đã cũ; số IMEI: 355634049077222, IMEI: 357620048578227 được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây bảo quản chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 68/CT – VKS ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Hoàng Văn Q về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q từ 24 đến 27 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy (một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng KTHS – C bên ngoài có chữ kí của đối tượng Hoàng Văn Q; đồng chí Nguyễn Thành T1 - Cán bộ Công an phưsờng V, đồng chí Phạm Trần N1 - Giám định viên phòng P ; Trả lại cho chị Nguyễn Thị H 01(một) xe đạp điện màu trắng, đã cũ, khung xe có chữ Y ; Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel vỏ màu đen, viền màu đỏ, đã cũ; số IMEI: 355634049077222, IMEI: 357620048578227.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã T3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Sáng ngày 27/3/2024, mua 1 gói ma túy 300.000 đồng của một người đàn ông không quen biết. Q cầm ma túy ở tay trái cất vào túi quần. Khi Q về đến trước số nhà C đường P thì bị kiểm tra và bắt quả tang.
[3] Xét hành vi của bị cáo nhận thấy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, biết việc tàng trữ ma ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện.Vì vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người đúng tội. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Tuy nhiên bị cáo đã bốn lần phải chấp hành hình phạt tù, trong đó có cả hành vi liên quan đến ma túy. Thể hiện bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng dèn luyện bản thân, mà lại tiếp tục hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, do vậy xác định bị cáo thiếu ý thức dèn luyện nhân thân xấu.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy (một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng KTHS – C bên ngoài có chữ kí của đối tượng Hoàng Văn Q; đồng chí Nguyễn Thành T1 - Cán bộ Công an phưsờng V, đồng chí Phạm Trần N1 - Giám định viên phòng P ; Trả lại cho chị Nguyễn Thị H 01(một) xe đạp điện màu trắng, đã cũ, khung xe có chữ Y ; Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel vỏ màu đen, viền màu đỏ, đã cũ; số IMEI: 355634049077222, IMEI: 357620048578227.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/3/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: Tịch thu tiêu hủy (một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng KTHS – C bên ngoài có chữ kí của đối tượng Hoàng Văn Q; đồng chí Nguyễn Thành T1 - Cán bộ Công an phưsờng V, đồng chí Phạm Trần N1 - Giám định viên phòng PC09-CATP Hà Nội.
Trả lại cho chị Nguyễn Thị H 01(một) xe đạp điện màu trắng, đã cũ, khung xe có chữ Y ; Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel vỏ màu đen, viền màu đỏ, đã cũ; số IMEI: 355634049077222, IMEI: 357620048578227.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/7/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây và Công an thị xã T3)
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hoàng Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Hoàng Văn Q được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể ngày nhận, hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lưu Ngọc Hưng |
Bản án số 71/2024/HSST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 71/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
