|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 71/2024/HS-ST Ngày 31-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Ngọc Biên, bà Nguyễn Thị Tin.
Thư ký phiên tòa: Ông Mông Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2024/HSST ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 26/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2024/HSST-QĐ ngày 10/7/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Xuân H, sinh năm 1992 tại huyện Y, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Tổ dân phố K, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H1 và con bà Nguyễn Thị T; vợ là Nguyễn Thị T1; có 02 con: Con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền sự, Tiền án: Không; bị cáo đầu thú, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt tại phiên tòa).
* Đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Ngô Văn V, sinh năm 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Lê Văn S, sinh năm 1998 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn V, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
- - Ông Ngô Văn V1, sinh năm 1957 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
*Người làm chứng:
- - Anh Đào Văn Q, sinh năm 1996 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
- - Anh Lê Xuân D, sinh năm 1980 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
- - Anh Lưu Văn Q1, sinh năm 1987 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Xuân H là người có Giấy phép lái xe ô tô hạng D. Sáng ngày 20/01/2024, H đến nhà anh Lê Văn S ở thôn V Làng, xã Đ, huyện Y là người quen biết để mượn xe ô tô con 05 chỗ ngồi đi ăn cỗ cưới, anh S đồng ý và giao chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98A- 105.74 cho Hoàng mượn. Mượn được xe ô tô, H điều khiển đến nhà ông K ở thôn T, xã Đ, huyện Y ăn cỗ cưới.
Sau khi ăn cỗ cưới xong, H ra ngồi uống nước thì gặp anh Lê Xuân D ở tổ dân phố A, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Thấy H đi xe ô tô, anh D có bảo cho đi nhờ về thị trấn N, H đồng ý. Khoảng 13 giờ ngày 20/01/2024, H điều khiển xe ô tô 98A- 105.74 chở anh D ngồi ghế sau đi từ thôn T, xã Đ ra đường T để về thị trấn N, huyện Y. Khi đi đến Km 08 + 500 tỉnh lộ 299D, thuộc địa phận tổ dân phố D, thị trấn N, huyện Y. H điều khiển xe ô tô đi trên phần đường phải, tốc độ khoảng 45 km/h (theo lời khai của H), quan sát thấy phía trước, có một người phụ nữ đi xe máy điện cùng chiều trên phần đường phải. Đó là xe máy điện 98MĐ6 - 101.52, do bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1957, ở thôn P, xã T, huyện Y điều khiển. Khi xe ô tô H đi đến cách xe máy điện của bà L khoảng 5m, thì điện thoại của H để ở dưới cạnh cần số có người gọi đến. H liền quay sang cúi xuống lấy điện thoại lên để nghe. Khi H cầm điện thoại, nhìn lên phía trước thì thấy xe ô tô của H đi đến sát gần sau xe máy điện bà L. Do khoảng cách quá gần, thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, vi phạm Điều 11, 12 Luật giao thông đường bộ; Điều 5 Thông tư số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G, nên H đã để xe ô tô đâm vào phía sau xe máy điện của bà L, làm xe máy điện lao sang đường trái đâm vào chậu cây cảnh trên vỉa hè, bà L bị ngã văng lên không rồi đập vào lắp ca pô trái xe ô tô rơi xuống mặt đường. Xe ô tô H lao về phía trước một đoạn dừng lại. H xuống xe đưa bà L lên xe ô tô đến Trung tâm y tế huyện Y cấp cứu, nhưng do thương tích nặng nên bà L bị tử vong cùng ngày.
Đối với Nguyễn Xuân H, sau khi đưa bà L đến Trung tâm y tế huyện Y cấp cứu, H không đưa xe ô tô đến hiện trường mà đưa xe đến quán R để rửa xe, sau đó điện thông báo cho anh S biết vụ tai nạn, bảo anh S đến lấy xe về rồi H bỏ đi. Đến hồi 13 giờ 30 phút ngày 21/01/2024, H đến Cơ quan điều tra Công an huyện Y đầu thú.
Hồi 15 giờ 30 phút ngày 20/01/2024, anh Lê Văn S giao nộp Cơ quan điều tra: Xe ô tô con 05 chỗ ngồi, nhãn hiệu KIA, màu sơn vàng, biển kiểm soát 98A- 105.74; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe và 01 Giấy chứng nhận kiểm định.
Sau khi vụ việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã thành lập hội đồng khám nghiệm đến khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn, tiến hành xác minh, điều tra:
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường được khám nghiệm phải trái theo hướng xã C - thị trấn N, huyện Y (N - B).
Hiện trường vụ tai nạn được xác định tại Km số 08 + 500m, đường T, thuộc địa phận tổ dân phố D, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng. Mặt đường được trải nhựa áp phan, rộng 20,3m. Ở giữa đường là vạch sơn màu vàng, dạng đứt quãng, phân chia mặt đường thành hai chiều xe chạy không riêng biệt. Hai bên đường là vỉa hè. Vỉa hè bên phải rộng 7m, vỉa hè bên trái rộng 10,75m.
- Xe máy điện màu đen, nhãn hiệu Orla đổ nghiêng trái trên lối rẽ vào khu vực chợ của phần đường trái, đè lên gốc cây bưởi. Trục bánh trước cách điểm đầu đám chất màu nâu đỏ đã khô 40,10m. Trục bánh sau cách mép đường phải 36m.
- Tại vị trí lối rẽ vào khu vực chợ ở phần đường trái có 01 chậu cây làm bằng bê tông. Chậu cây này cách trục bánh sau của xe máy điện là 1,84m. Cạnh của chậu cây có dấu vết vỡ, mất mảng bê tông, bám dính chất màu đen, kích thước (0,15x0,08)cm.
Trên hiện trường để lại các dấu vết:
- Vết số (1) là đám chất màu nâu đỏ đã khô, kích thước (20x1,40)cm nằm trên mặt đường phải. T2 vết cách mép đường phải 6,90m và cách cột đèn số 7 là 11,20m.
- Vết số (2) là đám mảnh nhựa vỡ, kích thước (4x5,40)m nằm trên mặt đường phải. T2 đám mảnh nhựa vỡ cách điểm cột đèn số 7 là 6m và cách tâm đám chất màu nâu đỏ đã khô là 8m.
* Khám xe ô tô biển kiểm soát 98A- 105.74:
Xe ô tô biển kiểm soát 98A- 105.74, nhãn hiệu KIA, màu sơn vàng loại 5 chỗ ngồi.
Phần đầu xe bên trái cách cụm đèn pha bên trái 10cm để lại dấu vết mài sát sơn nhựa, kích thước (10x4)cm. Mặt ca lăng bên trái, tại vị trí cách cụm đèn pha bên trái 16cm để lại dấu vết bong tróc đề can màu vàng. Phần đầu xe bên trái cách cụm đèn pha bên trái 17cm để lại dấu vết dập vỡ, mài sát sơn nhựa, bám dính chất màu đen trên diện kích thước (18x8)cm. Phần ba đờ sốc bên trái phía trước đầu xe cách cụm đèn pha bên trái 32cm để lại dấu vết dập vỡ, mài sát sơn nhựa trên diện kích thước (16,5x6,5)cm. Phần ba đờ sốc bên trái phía trước đầu xe cách cụm đèn pha bên trái 39cm để lại dấu vết mài sát sơn nhựa trên diện kích thước (15x6,5)cm. Cụm đèn bi thứ ba phía trước đầu xe, tính từ phải sang trái bị long bật, vỡ nhựa, thụt vào trong. Ngoài ra còn một số dấu vết khác thể hiện trong bản khám xe riêng.
* Khám xe máy điện biểm kiểm soát 98MĐ6- 101.52:
Xe máy điện biển kiểm soát 98MĐ6- 101.52, nhãn hiệu YAREA, màu sơn đen nhám:
Mặt nạ phía trước đầu xe bị vỡ khuyết hoàn toàn, để lộ hệ thống dây điện, còi. Đầu chắn bùn phía trước bên trái để lại dấu vết mài sát sơn nhựa, trên diện kích thước (33x30)cm. Đầu chắn bùn này bị dập vỡ, long bật. Tay phanh bên phải bám dính chất màu xanh. Ốp nhựa bên phải bảo vệ bình ắc quy bị dập vỡ, để lại dấu vết mài xước sơn nhựa, kích thước (24x15)cm. Yên xe bên trái bám dính đất, kích thước (33x11)cm. Ốp nhựa bên phải bảo vệ bình ắc quy để lại dấu vết mài sát, trên diện kích thước (20,5x14)cm. Phần đuôi xe (chắn bùn, đèn xi nhan) bị long bật, vỡ khuyết. Chắn bùn gắn biển kiểm soát 98MĐ6-101.52 bị thụt vào trong. Ngoài ra còn một số dấu vết khác thể hiện trong bản khám xe riêng.
* Khám nghiệm tử thi Nguyễn Thị L, sinh năm 1957 ở thôn P, xã T, huyện Y:
Vùng thái dương phải có diện sưng nề, trên diện này, tại vị trí vùng đỉnh có vết rách da, kích thước (4x0,6)cm. Mặt sau khuỷu tay và 1/3 trên cẳng tay phải có diện sây sát da bầm tím. Mặt ngoài 1/3 trên đùi phải có diện sây sát da. Mặt ngoài gối phải có diện sây sát da bầm tím. Mặt ngoài mắt cá chân phải có diện sây sát da bầm tím. Mặt mu bàn tay trái có diện sây sát da bầm tím, kích thước (3x1,5)cm. Kiểm tra vết rách da vùng đầu thấy bầm tụ máu tổ chức dưới da đường vỡ xương hộp sọ vùng đỉnh phải, phần đo được dài 3cm. Qua đường vỡ máu đỏ vẫn chảy ra.
Tại Bản kết luận giám định về tử thi số 227 ngày 25/01/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị L do chấn thương sọ não: Vỡ xương hộp sọ vùng đỉnh phải.
Ngày 31/01/2024, Cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định gửi đến Phòng K1 Công an tỉnh B để giám định cơ chế vụ tai nạn. Tại Bản kết luận giám định số 454 ngày 29/02/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
"1. Dấu vết dập vỡ, trượt xước sơn, nhựa, bám dính chất màu đen tại bên trái cản trước, bên trái mặt ca lăng của xe ô tô biển kiểm soát 98A - 105.74 có chiều hướng từ trước ra sau phù hợp với dấu vết dập vỡ mài sát sơn, nhựa, kim loại tại tay xách phía sau, cụm đèn hậu, chắn bùn bánh sau, biển số của xe máy điện biển kiểm soát 98MĐ6-101.52, có chiều hướng từ trước ra sau.
2. Dấu vết gãy vỡ, trượt xước sơn, nhựa, bám dính đất tại mặt nạ, chắn bùn bánh trước, bên trái yên xe, ốp sườn bên trái của xe máy điện biển kiểm soát 98MĐ6 - 101.52 được hình thành do va chạm với vật tày cứng, bề mặt không nhẵn.
Dấu vết trượt xước kim loại, bám dính chất bột màu trắng (dạng bê tông) tại ốp bảo vệ mô tơ bánh sau bên phải và bên phải chân chống chính của xe máy điện biển kiểm soát 98MĐ6 - 101.52 được hình thành do va chạm với vật tày cứng, dạng bê tông. Dấu vết trên phù hợp với dấu vết trượt xước bê tông tại chậu cây bên trái đường ký hiệu số 5.
3. Không xác định được vị trí va chạm, chiều hướng di chuyển của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.
4. Không xác định được xe ô tô biển kiểm soát 98A - 105.74 và xe máy điện biển kiểm soát 98MĐ6 - 101.52 có va chạm với phương tiện tiện nào khác hay không, do khi xảy ra tai nạn các chi tiết nhựa trên phương tiện bị gãy vỡ, bật rời khỏi vị trí cố định.
5. Không xác định được tốc độ của các phương tiên tại thời điểm xảy ra tại nạn qua các dấu vết cơ học".
Từ những nội dung trên, Cáo trạng số 60/CT-VKSYD ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng đã truy tố Nguyễn Xuân H về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người này có trong hồ sơ vụ án.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- - Xử phạt Nguyễn Xuân H từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, phải chịu thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Giao Nguyễn Xuân H cho Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- - Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng D mang tên Nguyễn Xuân H.
- - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- * Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận.
* Lời nói sau cùng: Bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn, hai con còn nhỏ, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo được tự cải tạo tại địa phương và giúp đỡ gia đình.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa xét xử vụ án, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội:
Theo các tài liệu điều tra, thu thập trong hồ sơ thể hiện: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/01/2024, Nguyễn Xuân H là người có Giấy phép lái xe ô tô hạng D, điều khiển xe ô tô 05 chỗ ngồi, nhãn hiệu KIA, màu sơn vàng, biển kiểm soát 98A- 105.74 đi từ thôn T, xã Đ, huyện Y về thị trấn N, huyện Y. Khi đi đến Km 08 + 500 tỉnh lộ 299D, thuộc địa phận tổ dân phố D, thị trấn N, huyện Y (khu vực đông dân cư). Do thiếu chú ý quan sát, không chấp hành biển báo hiệu đường bộ, không làm chủ tốc độ, vi phạm Điều 11, 12 Luật giao thông đường bộ và Điều 5 Thông tư số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G, H đã để xe ô tô do mình điều khiển gây tai nạn với xe máy điện do bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1957, ở thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đi phía trước cùng chiều, hậu quả làm bà Nguyễn Thị L bị chết.
Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của bị đơn dân sự, người làm chứng, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định pháp y về nguyên nhân tử vong của nạn nhân, kết luận về cơ chế hình thành dấu vết trong vụ tai nạn cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Xuân H phạm tội “Vi Phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 60/CT-VKSYD ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn giao thông đường bộ và tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hiểu rõ được hành vi của mình là vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, mặc dù không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng hậu quả thực tế là đã làm bà Nguyễn Thị L bị chết. Do vậy cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của gia đình bị hại. Sau khi phạm tội ra đầu thú và được đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
[5] Xét đề nghị của Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo thì thấy:
Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Điều 2, Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo và chỉ cần cho bị cáo tự cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người biết tuân thủ pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã hội. Mặt khác việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Do vậy đề nghị của Viện kiểm sát về việc cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã thoả thuận bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 180.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Do vậy về trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Anh Lê Văn S là chủ sở hữu xe ô tô biển số 98A- 105.74; ông Ngô Văn V1 là chủ sở hữu xe máy điện MDD6- 101.52 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường chi phí sửa chữa các chiếc xe trên nên không đặt ra xem xét, giải quyết các vấn đề trên.
[7] Về hình phạt bổ sung: Tội phạm này có quy định về hình phạt bổ sung, nhưng xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với xe ô tô 98A- 105.74 của anh Lê Văn S và xe máy điện MDD6- 101.52 là của ông Ngô Văn V1. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, xét thấy việc trả lại tài sản cho các chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật nên không đặt ra xem xét, giải quyết đối với vấn đề này.
Đối với Giấy phép lái xe hạng D mang tên Nguyễn Xuân H là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo sử dụng là phù hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106; điểm d khoản 1 Điều 125; khoản 2 Điều 136, Điều 292, Điều 293, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về trách nhiệm hình sự:
- Về xử lý vật chứng:
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Xử phạt Nguyễn Xuân H 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, phải chịu thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 31/7/2024 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Giao Nguyễn Xuân H cho Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với Nguyễn Xuân H.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
* Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách:
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng D số [...] mang tên Nguyễn Xuân H.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thái Sơn |
Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 71/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Nguyễn Xuân H 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, phải chịu thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 31/7/2024 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Giao Nguyễn Xuân H cho Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
