Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG ẢNG

TỈNH ĐIỆN BIÊN

Bản án số: 71/2024/HS-ST

Ngày: 31-5-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lò Văn Ngắm

2. Ông: Lò Văn Đoàn

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Hạnh – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Tòng Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2024/TLST-HS, ngày 09 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST – HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo: Họ và tên: Lò Văn H; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1968 tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản NL, xã ẴN, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 5/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lò Văn M (đã chết) và con bà Lò Thị P (đã chết); Gia đình bị cáo có 11 anh chị em, bị cáo là con thứ 06 trong gia đình; Bị cáo có vợ chị Tòng Thị Giót, sinh năm 1978; Bị cáo có 05 người con, con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án; tiền sự: không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính; Bị cáo bị tạm giam, giữ tại nhà Tạm giữ Công an huyện Mường Ảng từ ngày 23/01/2024 cho đến nay được trích xuất, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của Lò Văn H được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 23 tháng 01 năm 2024, Lò Văn H đi bộ từ nhà ở bản NL, xã ẴN, huyện MA đến bản Hón Sáng, xã Ảng Cang, huyện Mường Ảng tìm mua Heroine mục đích để sử dụng. Khi đến bãi tha ma thuộc bản Hón Sáng, xã Ẳng Cang thì Lò Văn H gặp 01 người đàn ông dân tộc Thái, không quen biết đứng ở cạnh đường. Qua trao đổi Lò Văn H đã mua được của người đàn ông đó 01 gói nhỏ Heroine gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 2.000.000đ. Sau khi mua được ma tuý Lò Văn H cất giấu trong túi áo khoác bên phải đi về nhà. Đến khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày khi Lò Văn H đang về đến khu vực bản Hón, thị trấn Mường Ảng, huyện Mường Ảng thì gặp Tổ Công tác Công an huyện Mường Ảng đang làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra, vận động có ma tuý giao nộp, Lò Văn H đã tự giác giao nộp 01 gói ma tuý ra giao nộp. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong thu giữ 11,40 gam Heroine.

Ngày 31/01/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Ảng quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Lò Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại biên bản niêm phong vật chứng hồi 14 giờ 55 phút ngày 23/01/2024 thì vật chứng thu giữ của Lò Văn H là 01 gói nhỏ chứa chất bột màu trắng gói bằng mảnh nilon màu trắng nghi là Heroine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 23/01/2024 thì 01 gói nhỏ chứa chất bột màu trắng gói bằng mảnh nilon màu trắng nghi là Heroine có khối lượng là: 11,40 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 333/KL-KTHS, ngày 29/01/2024 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn H gồm:

  • - 11,40 gam chất bột màu trắng là ma túy: Loại Heroine;
  • Hoàn lại mẫu sau khi giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số: 51/CT - VKSMA, ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo Lò Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 10,8 gam Heroine là vật chứng hoàn lại của vụ án. Tịch thu tiêu huỷ 01 mảnh túi nilon màu trắng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án bị cáo Lò Văn H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng, Lò Văn H nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Qua quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu và phù hợp với vật chứng đã thu được của bị cáo Lò Văn H cụ thể: Hồi 13 giờ 20 phút ngày 23 tháng 01 năm 2024, tại khu vực bản Hón, thị trấn Mường Ảng, huyện Mường Ảng Lò Văn H đã có hành vi tàng trữ 11,40 gam Heroine mục đích để sử dụng.

    Do vậy, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ để kết tội bị cáo Lò Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  2. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được và biết rõ tác hại của ma túy, hiểu được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và hiểu được các quy định của Nhà nước về nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy nhưng bị cáo là người nghiện chất ma túy để thoả mãn nhu cầu của bản thân nên đã bất chấp pháp luật để thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo tàng trữ ma tuý có khối lượng 11,40 gam Heroine, là tình tiết định khung quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 05 đến 10 năm tù.
  3. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên được bố mẹ nuôi ăn học hết lớp 05/12 thì nghỉ học ở nhà lao động sản xuất cùng gia đình. Năm 1990 sống chung như vợ chồng với chị Lò Thị Tưởng, sinh năm 1970 có với nhau 03 người con. Đến năm 2004 không sống cùng với chị Lò Thị Tưởng nữa. Năm 2007 kết hôn với chị Tòng Thị Giót, sinh năm 1978 và có với nhau 02 người con. Bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy nên có nhân thân không tốt. Bởi vậy Hội đồng xét xử cần đưa ra mức hình phạt thật nghiêm khắc, để cải tạo giáo dục bị cáo và cũng là cơ hội để bị cáo cai nghiện ma túy. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; khi được tổ công tác yêu cầu kiểm tra bị cáo đã tự giác giao nộp chất ma túy nên Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống, xã hội một thời gian để bị cáo sửa chữa tội lỗi của mình, sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của BLHS.

Theo khoản 5 Điều 249 của BLHS quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  1. Tại phiên toà, xét thấy mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên HĐXX không chấp nhận. Các vấn đề khác về tội danh, điều luật áp dụng, xử lý vật chứng, án phí phù hợp nên HĐXX chấp nhận
  2. Về vật chứng: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS Hội đồng xét xử thấy rằng: 10,8 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau khi gửi mẫu giám định cần tịch thu tiêu hủy; 01 mảnh túi nilon màu trắng không còn giá trị nên cần tịch thu để tiêu huỷ.

    Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Thái, không biết tên vào ngày 23/01/2024. Quá trình điều tra không có cơ sở để làm rõ đối tượng nên HĐXX không xem xét.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án bị cáo Lò Văn H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
  5. Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

    Áp dụng: Điểm g Khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Lò Văn H 06 (Sáu) năm tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23 tháng 01 năm 2024.

  2. Vật chứng: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 10,8 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau khi gửi mẫu giám định. Tịch thu để tiêu huỷ 01 mảnh túi nilon màu trắng(Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/5/2024).
  3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án bị cáo Lò Văn H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Điện Biên;
  • - VKS tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND huyện Mường Ảng;
  • - Chi cục THADS huyện Mường Ảng;
  • - STP tỉnh Điện Biên;
  • - Công an huyện Mường Ảng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hs;

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(đã ký)

Nguyễn Thị Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 71/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn H - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger