TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 71/2024/DS-ST Ngày 30-9-2024 “V/v tranh chấp dân sự về hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Mai Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thiện Bửu
Ông Trang Văn Hận.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - là Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp
tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Sóc - Kiểm sát viên.
Vào ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 215/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp dân sự về hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số: 113/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Lê Quang Đ, sinh năm 1967.
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Ông Lê Nhật T, sinh năm 1979 (vắng mặt không lý do).
Địa chỉ cư trú: Khóm D, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông Lê Quang Đ trình bày:
Nguyên vào ngày 16 tháng 7 năm 2023, ông Lê Nhật T có cầm đất ruộng cho ông thuộc thửa số 121, 844, tờ bản đồ số 1, diện tích 11,5 công tằm đất tọa lạc tại khu I, ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Thời hạn cầm cố 03 năm từ ngày 20/8/2023 đến ngày 20/8/2026, với số tiền cầm cố là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).
Trong thời gian ông bảo quản đất và đang sản xuất thì ông T lấy quyền sử dụng đất trên để thế chấp vay tiền Ngân hàng, do nợ quá hạn nên Ngân hàng khởi kiện và yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự kê biên diện tích đất mà ông T đã cầm cố cho ông.
Tháng 6/2024 Chi cục thi hành án dân sự đã tổ chức bán đấu giá toàn bộ diện tích đất nêu trên để trả nợ Ngân hàng. Như vậy ông T đã vi phạm hợp đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông. Hiện nay ông đã giao đất cho Thi hành án bán đấu giá xong.
Nay ông yêu cầu buộc ông Lê Nhật T phải trả lại cho ông số tiền cố đất là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), không yêu cầu tính lãi.
Tại phiên toà ông Đ trình bày đối với phần đất cầm cố thì ông giao cho Chi cục thi hành án xong nên ông không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng, mà chỉ yêu cầu ông T trả lại cho ông số tiền cố đất là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), không yêu cầu tính lãi.
Đối với bị đơn ông Lê Nhật T đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt và cũng không gửi văn bản ý kiến về yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 91, Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 166, Điều 309, Điều 310, Điều 311, Điều 312, Điều 314 và Điều 315 của Bộ luật Dân sự; khoản 16 Điều 3; khoản 1, Điều 167 Luật Đất đai, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Lê Nhật T phải trả cho nguyên đơn ông Lê Quang Đ 400.000.000 đồng tiền cầm cố quyền sử dụng đất, không tính lãi do ông Đ không yêu cầu tính lãi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp dân sự về hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất và bị đơn Lê Nhật T hiện cư trú tại Khóm D, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Đối với bị đơn ông Lê Nhật T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Về nội dung: Xét việc ông Lê Quang Đ yêu cầu ông Lê Nhật T trả cho ông Đ số tiền cố đất còn nợ 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), không yêu cầu tính lãi.
Xét thấy, trong qúa trình giải quyết vụ án ông Đ đã cung cấp Hợp đồng cầm cố ngày 17/6/2023 có chữ ký ông T, nội dung hợp đồng thể hiện “Tôi (Lê Nhật T) có miếng đất ở khu I, ấp T- xã T- thành phố H- tỉnh Đồng Tháp với diện tích là 11,5 tằm cắt (mười một công rưỡi tầm cắt). Nay tôi thống nhất cầm miếng đất trên cho ông: Lê Quang Đ – sinh năm 1967 ngụ ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp với số tiền là: 400.000.000đồng (bốn trăm triệu đồng); Thời gian cầm là 3 năm kể từ ngày 20/08/2023 đến ngày 20/08/2026 là hết hạn. Nếu đến hết hạn mà ông T không có tiền chuộc lại thì ông Đ có quyền làm tiếp”. Kể từ ngày 17/6/2023 ông T đã giao đất cho ông Đ để trồng lúa, phía ông Đ đã canh tác được hai vụ thì phần đất này bị Chi cục thi hành án kê biên và theo Công văn của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự cung cấp thông tin: Ngày 22/02/2024 Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự đã ra Quyết định cưỡng chế, kê biên số: 07/QĐ-CCTHADS về việc cưỡng chế, kê biên quyền sử dụng đất đối với ông Lê Nhật T, trong đó có một phần thửa đất số 844, tờ bản đồ số 1 được đối chiếu sang bản đồ địa chính chính quy năm 2023 tương ứng thửa đất số 107 tờ bản đồ số 1, diện tích đo đạc thực tế là 5.365,6 m² đất trồng lúa, tọa lạc tại xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; Một phần thửa đất số 844 và một phần thửa đất số 121, cùng tờ bản đồ số 1 được đối chiếu sang bản đồ địa chính chính quy năm 2023 tương ứng thửa đất số 135 tờ bản đồ số 1, diện tích đo đạc thực tế là 4.677,7 m² đất trồng lúa, tọa lạc tại xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp và một phần thửa đất số 121, tờ bản đồ số 1 được đối chiếu sang bản đồ địa chính chính quy năm
2023 tương ứng thửa đất số 164 tờ bản đồ số 1, diện tích đo đạc thực tế là 4.272,2 m² đất trồng lúa, tọa lạc tại xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Qua xác minh thì ông Lê Quang Đ cho biết tất cả diện tích đất nêu trên ông Lê Nhật T đang cầm cố cho ông Lê Quang Đ và ông Lê Quang Đ đang quản lý sử dụng.
Ngày 04/4/2024 Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự đã tiến hành kê biên diện tích đất nêu trên để đảm bảo thi hành án cho ông Nguyễn Thanh P.
Ngày 20/6/2024 Công ty Đ2 đưa tài sản nêu trên của ông Lê Nhật T ra bán đấu giá và ông Lê Quang Đ là người trúng đấu theo hợp đồng mua bán tài sản số:74/2024/HĐMBTSÐG-TĐĐT ngày 20/6/2024”.
Nhận thấy, đối với ông Lê Nhật T từ khi Tòa án thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, mặc dù đã được tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng ông T không gửi văn bản ý kiến và các tài liệu, chứng cứ kèm theo về việc phản đối yêu cầu của ông Đ. Vì vậy, Toà án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và ông T phải chịu hậu quả pháp lý của việc không chứng minh.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định nghĩa vụ chứng minh: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ việc”.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy ông Lê Văn Đ1 yêu cầu ông Lê Nhật T trả số tiền cố đất là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), không yêu cầu trả lãi là hoàn toàn có căn cứ chấp nhận.
[3] Xét đối với diện tích đất cầm cố diện tích 11,5 (mười một phẩy năm) tằm cắt, hiện nay phần đất ông Đ1 đã tự nguyện giao cho thi hành án bán đấu giá xong, ông không tranh chấp cũng không yêu cầu Toà án giải quyết chỉ yêu cầu trả tiền cố đất. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét đối với phần đất đã cầm cố.
[4] Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự phát biểu ý kiến về nội dụng giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5.1] Bị đơn ông Lê Nhật T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn số tiền là 20.000.000đồng (Hai mươi tám triệu đồng).
[5.2] Nguyên đơn ông Lê Quang Đ không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Lê Quang Đ được nhận lại tiền tạm ứng đã nộp là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) theo Biên lai số 0005248 ngày 12/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1, 4 Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 166, Điều 309, Điều 310, Điều 311, Điều 312, Điều 314 và Điều 315 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quang Đ.
Buộc ông Lê Nhật T có trách nhiệm trả cho ông Lê Quang Đ số tiền cố đất là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).
- Kể từ ngày ông Lê Quang Đ có đơn yêu cầu thi hành án mà ông Lê Nhật T chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi bằng 50% mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền chưa thi hành án, tại thời điểm thi hành án.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Lê Nhật T phải chịu số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Ông Lê Quang Đ được nhận lại số tiền tạm ứng đã nộp 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) theo biên lai số 0005248 ngày 12/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Về hướng dẫn thi hành án dân sự:
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/9/2024). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP. Hồng Ngự; - Lưu VT, Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Mai Trinh |
Bản án số 71/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp dân sự về hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất
- Số bản án: 71/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án
