|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30/8/2024 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Hồ Thị Kim Luyến
- 2. Ông Dương Minh Dũng
- - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Trong ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 234/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 529/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số 529/2024/QĐST-DS ngày 13/8/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trang Kim P sinh năm: 1985 (có mặt)
- Địa chỉ: Số F đường E Khu N, P. A, Q. N, TP ..
- - Bị đơn: Ông Hứa Thái N sinh năm: 1987 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Số F đường E Khu N, P. A, Q. N, TP ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Trang Kim P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Nguyên, bà và ông Hứa Thái N kết hôn năm 2013 đến nay có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 63/2013 quyển số 04/2011 do Ủy ban nhân dân phường C, TP ., tỉnh Bạc Liêu cấp ngày 13/6/2013. Quá trình chung sống vợ chồng, bà và ông thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng những năm gần đây, bà và ông phát sinh nhiều mâu thuẫn ông N có về nhiều vấn đề, không thể giải quyết. Xét thấy, tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, dù đã cố gắng duy trì hạnh phúc gia đình, cuộc sống vợ chồng của bà và ông vẫn không thể cứu vãn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên bà đề nghị Tòa án cho bà được ly hôn với ông Hứa Thái N.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống ông bà có 01 con chung là cháu Hứa Trang Minh T (nữ), sinh ngày 01/9/2014 đang sống chung với bà. Sau khi ly hôn, bà P yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Hứa Trang Minh T.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phía bị đơn ông Hứa Thái N trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho bị đơn thông báo thụ lý, thông báo về việc tham gia phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt. Mặt khác, nguyên đơn có yêu cầu đưa vụ án ra xét xử, không qua tiến hành hòa giải, do giữa nguyên đơn và bị đơn mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn, đoàn tụ với nhau. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn vắng mặt không có ý kiến gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Trang Kim P và ông Hứa Thái N tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, TP ., tỉnh Bạc Liêu nên xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ và điều chỉnh khi có yêu cầu. Quá trình chung sống, bà P và ông N phát sinh mẫu thuẫn nên bà P có đơn xin ly hôn, quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn", bị đơn cư trú tại quận N. Do đó, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
2]. Về thủ tục tố tụng:
Trong quá trình giải quyết, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia các phiên tòa vào ngày 13/8/2024 và ngày 30/8/2024 nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
3.1. Bà P yêu cầu được ly hôn với ông N:
Bà P và ông N tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường C, TP ., tỉnh Bạc Liêu cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/6/2013. Ông bà chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Theo bà P thì nguyên nhân mâu thuẫn là do ông N có về nhiều vấn đề, không thể giải quyết, dù đã cố gắng duy trì hạnh phúc gia đình, cuộc sống vợ chồng của bà và ông vẫn không thể cứu vãn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên bà và ông N đã sống ly thân từ tháng 3/2021. Nhận thấy, bà không còn tình cảm với ông N nên bà khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông N.
Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện các trình tự thủ tục tống đạt thông báo mời hòa giải và tham gia phiên tòa theo quy định của pháp luật nhằm tạo điều kiện để các đương sự hoà giải nhưng mâu thuẫn, hòa giải đoàn tụ nhưng ông N đều vắng mặt không lý do. Điều này chứng tỏ ông N không thật sự tha thiết với cuộc sống hôn nhân này.
Hơn nữa, trên thực tế ông bà không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bà P và ông N đã sống ly thân từ tháng 3/2021. Từ đó cho thấy, tình cảm vợ chồng giữa bà P và ông N đã thật sự rạn nứt, hôn nhân đã chấm dứt trên thực tế, đời sống chung giữa ông bà không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục chung sống cũng không đem lại hạnh phúc cho bà P cũng như ông N. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
3.2. Về con chung:
Trong thời gian chung sống, ông bà có 01 con chung tên Hứa Trang Minh T (nữ), sinh ngày 01/9/2014 đang sống chung với bà. Sau khi ly hôn, bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay cháu T đang sống với bà P, điều kiện phát triển về tinh thần và sức khỏe của cháu vẫn phát triển tốt. Cháu vẫn đảm bảo các điều kiện sinh hoạt đầy đủ và học tập tốt cũng như việc trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục vì lợi ích của cháu. Mặt khác, cháu T là nữ để tiện việc chăm sóc, do bé đang tuổi trưởng thành nên cháu sống với bà P sẽ đảm bảo điều kiện chăm sóc. Đồng thời, cháu có nguyện vọng muốn sống với bà P nên việc giao cháu T cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp với nguyện vọng của cháu và phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
3.3. Về cấp dưỡng nuôi con chung:
Bà P không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
3.4. Về tài sản chung và nợ chung:
Ghi nhận lời trình bày của đương sự không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
3.5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Trang Kim P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng bà được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001466 ngày 12/6/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều. Bà P đã nộp xong án phí.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Điều 27 Nghị quyết số 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trang Kim P.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trang Kim P được ly hôn với ông Hứa Thái N.
- Về con chung: Giao con chung tên Hứa Trang Minh T (nữ), sinh ngày 01/9/2014 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
Dành quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung cho ông N, không ai được quyền ngăn cản ông thực hiện quyền này.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà P không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận lời trình bày của đương sự không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn bà Trang Kim P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng bà được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001466 ngày 12/6/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều. Bà P đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
*Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Yến Nhi |
Bản án số 71/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 71/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Trang Kim P được ly hôn với ông Hứa Thái N
