|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30/8/2024
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Kiên Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hà Huy Khoa.
- Bà Nguyễn Thị Vĩnh .
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hoàn - Thư ký Tòa án nhân huyện Đông Hưng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Đào Thyij Trà Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 103/2024/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024; về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2024/QÐST- HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 2005; địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng Minh H1, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn K, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
(Có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn, chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Trọng Minh H1 yêu nhau, có con với nhau, sau đó đến ngày 15/02/2023 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, hay xẩy ra va chạm, cãi nhau; nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh Hà ham c, không quan tâm đến chị và con. Cuối năm 2023 vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng, chị đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở xã A sống ly thân với anh H1. Nay chị xác định, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được; chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn để chị ổn định làm ăn.
Chị và anh H1 có 01 con chung là Nguyễn Trọng Minh H2, sinh ngày 25/02/2022, hiện con chung đang sinh sống với chị. Ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng cho con chung. Chị hiện làm Công nhân may ở xã Đ, huyện Đ; thu nhập bình quân của chị 10.000.000 đồng/1 tháng.
Chị và anh H1 không có tài sản chung và không có nợ chung, nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản.
* Anh Nguyễn Trọng Minh H1 có nơi trú tại thôn K, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Mọi văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa đều được Tòa án tống đạt hợp lệ cho anh H1 theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh H1 không đến Tòa án để làm việc, không xuất trình tài liệu chứng cứ cho Tòa án và vắng mặt tại phiên tòa.
* Qua xác minh với bà Nguyễn Thị X (là mẹ đẻ của anh H1) có nội dung:
- - Chị H và anh H1 đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 15/02/2023. Quá trình chung sống chị H và anh H1 bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Tháng 11/2023 chị H đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ sống ly thân với anh H1. Anh Hà hiện làm Công nhân may ở địa phương. Các văn bản Tòa án gửi cho anh H1 thì anh H1 đều nhận được. Gia đình đã hòa giải nhiều lần cho chị H và anh H1 nhưng cả hai đều không về đoàn tụ với nhau. Quan điểm của anh H1 cũng đồng ý ly hôn với chị H.
- - Chị H và anh H1 có 01 con chung là Nguyễn Trọng Minh H2, sinh ngày 25/02/2022 (chị H và anh H1 có con với nhau trước khi đi đăng ký kết hôn), hiện con chung đang sinh sống cùng chị H. Quan điểm của anh H1 đồng ý để chị H tiếp tục nuôi dưỡng con chung và nhất trí với việc chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng cho con chung.
- - Chị H và anh H1 không có tài sản chung và không có nợ chung.
* Xác minh tại UBND xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình có nội dung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Trọng Minh H1 đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 15/02/2023. Sau kết hôn được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Chị H đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Nay chị H xin ly hôn, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Chị H và anh H1 có 01 con chung là Nguyễn Trọng Minh H2, sinh ngày 25/02/2022. Con chung hiện đang sinh sống cùng chị H. Ly hôn, đề nghị Tòa án giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án:
- - Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì.
- - Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
- - Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Trọng Minh H1.
- - Về con chung: Áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình. Giao con chung Nguyễn Trọng Minh H2, sinh ngày 25/02/2022 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng; chấp nhận việc chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- - Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
- - Bị đơn anh Nguyễn Trọng Minh H1 có nơi cư trú tại thôn K, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Anh Nguyễn Trọng Minh H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh H1.
* Về nội dung:
[1] Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Trọng Minh H1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng mâu thuẫn và ly thân nhau từ cuối năm 2023 đến nay; cả hai không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng, anh H1 cũng không đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải và tham gia phiên tòa. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.
[2] Về con chung: Con chung dưới 36 tháng tuổi đang sinh sống ổn định cùng chị H; từ khi vợ chồng ly thân, chị H vẫn chăm sóc con chu đáo. Chị H có thu nhập và nơi ở ổn định nên cần giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung. Việc chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về tài sản: Do chị H không yêu cầu giải quyết, anh H1 không có lời khai, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí : Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Về quyền kháng cáo: Chị H và anh H1 có quyền kháng cáo trong thời gian luật định.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV;
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Trọng Minh H1.
- Về con chung: Xử giao con chung Nguyễn Trọng Minh H2, sinh ngày 25/02/2022 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng; chấp nhận việc chị Nguyễn Thị H không yêu cầu anh Nguyễn Trọng Minh H1 cấp dưỡng cho con chung. Anh Nguyễn Trọng Minh H1 được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Trọng Minh H1 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng cho con khi cần thiết.
- Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm; Chuyển số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003235 ngày 21/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hưng thành tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Nguyễn Trọng Minh H1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Lê Kiên Trung |
Bản án số 71/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 71/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
