| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2024/HS-ST | |
| Ngày: 30/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thanh Hà.
Ông Lê Tấn Hoàng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đức - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Nhẫm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Phùng Thị Mỹ H; Sinh ngày: 23/6/1986; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 231/33A đường B, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 78 đường số 7, Phường K, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Giúp việc nhà; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phùng Đắc T (chết) và bà: Lê Thị Kim L; Có chồng: Là ông Nguyễn Thành S và con: Có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/3/2024 đến ngày 29/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 40 phút ngày 26/3/2024, tổ công tác thuộc Công an Phường 11, Quận 6 trên đường tuần tra phát hiện Phùng Thị Mỹ H đang đi bộ đến trước nhà số 81 đường C, Phường K, Quận F có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ công tác đã thu giữ trên tay phải của H 01 túi nylon màu vàng, bên trong túi nylon có 01 ví cầm tay màu đen (trong ví có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu); 01 cân điện tử; 01 chai thủy tinh (trên nắp có khoét hai lỗ); 01 hộp giấy màu xanh (bên trong có 10 gói nylon không chứa gì). Sau đó, tổ công tác đã giao H cùng vật chứng nêu trên cho Cơ quan điều tra Công an Quận 6 giải quyết.
Tại Cơ quan điều tra, Phùng Thị Mỹ H khai: Khoảng 16 giờ ngày 23/3/2024, H đón xe Honda ôm đến khu vực trước nhà số 109A đường T, Phường N, Quận H gặp một người phụ nữ (không rõ lai lịch) mua 01 gói ma túy đá giá 500.000 đồng. Sau đó, H đem gói ma túy về nhà dùng cân điện tử phân ra thành 05 gói nhỏ để dành sử dụng và H đã sử dụng hết 03 gói, còn lại 02 gói H cất trong ví cầm tay màu đen. Đến 16 giờ 40 phút ngày 26/3/2024, H cầm theo túi nylon màu vàng, bên trong có 01 ví cầm tay màu đen chứa 02 gói ma túy đi bộ đến trước nhà số 81 đường C thì bị kiểm tra bắt giữ như nêu trên.
Tiến hành khám xét nơi ở của Phùng Thị Mỹ H tại địa chỉ 78 đường G, Phường K, Quận F, tổ công tác không phát hiện và thu giữ tang vật gì liên quan đến ma túy.
Theo kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Trạm y tế Phường 11, Quận 6, Phùng Thị Mỹ H dương tính với Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số: 4070/KL-KTHS ngày 04 tháng 4 năm 2024, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: Tinh thể không màu trong 02 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phùng Thị Mỹ H, Nguyễn Văn S1 (người chứng kiến) và hình dấu Công an Phường 11, Quận 6 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4087g (không phẩy bốn không tám bảy gam), loại Methamphetamine.
Ngày 28 tháng 3 năm 2024, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 40/QĐ-ĐCSMT); khởi tố bị can đối với Phùng Thị Mỹ H về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» (Quyết định số: 52/QĐ-ĐCSMT).
Đối với người phụ nữ mà Phùng Thị Mỹ H khai bán ma túy cho H ở khu vực trước nhà số 109A đường T, Phường N, Quận H, Cơ quan điều tra không xác định được lai lịch.
Tại Cáo trạng số: 78/CT-VKS-Q6 ngày 18 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phùng Thị Mỹ H về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Bị cáo Phùng Thị Mỹ H khai nhận chính bị cáo, đã thực hiện hành vi cất giữ 02 gói ma túy tổng hợp (loại Methamphetamine hay còn gọi là ma túy đá) để dành sử dụng và bị Công an phát hiện bắt quả tang vào lúc 16 giờ 40 phút ngày 26/3/2024 tại khu vực trước nhà số 81 đường CL, Phường K, Quận F như nội dung bản cáo trạng nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phùng Thị Mỹ H như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Phạt bị cáo Phùng Thị Mỹ H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo điểm c khoản 1 Điều 249; điểm n, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói ma túy đã được niêm phong, bên ngoài có ghi vụ số: 4070(1247/24-Quận 6), có chữ ký của Giám định viên Phan Tấn Q và cán bộ điều tra Bùi Ngọc Bảo L. Bên trong chứa tinh thể không màu, có khối lượng 0,2911 gam (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định); 01 túi nylon màu vàng; 01 ví cầm tay màu đen; 01 cân điện tử (có vỏ màu đen); 01 chai thủy tinh (trên nắp có khoét hai lỗ); 01 hộp giấy màu xanh, bên trong có 10 gói nylon (không chứa gì).
- Trả lại bị cáo Phùng Thị Mỹ H 01 chiếc điện thoại di động màu xanh, phía sau lưng có ghi chữ Vivo, số Imei 1: 861177059265631, số Imei 2: 861177059265623 (bên trong có 01 sim điện thoại số 0764.609.xxx).
Lời nói sau cùng, bị cáo Phùng Thị Mỹ H nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời và chăm sóc, nuôi dưỡng các con còn nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo Phùng Thị Mỹ H tại phiên tòa với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Kết luận giám định số: 4070/KL-KTHS ngày 04/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh; lời khai của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ, lời khai khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phùng Thị Mỹ H đã phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).
Bị cáo Phùng Thị Mỹ H đã cất giữ chất ma túy ở thể rắn và thời điểm phát hiện bắt quả tang (vào lúc 16 giờ 40 phút ngày 26/3/2024 tại khu vực trước nhà số 81 đường C, Phường K, Quận F) đã thu giữ trong chiếc ví cầm tay màu đen của bị cáo 02 gói nylon, bên trong có 0,4087 gam ma túy, loại Methamphetamine (bị cáo khai số ma túy này là của bị cáo mua và cất giữ để dành sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy khác). Hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về chế độ độc quyền trong việc quản lý, trao đổi, cất giữ chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội. Hành vi này đủ yếu tố cấu thành tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» thuộc trường hợp «Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam» theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên, là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Bị cáo Phùng Thị Mỹ H là người đã trưởng thành, bị cáo hoàn toàn nhận thức được tác hại của ma túy, nhận thức được hành vi cất giữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn lối sống không lành mạnh và nhất là xem thường pháp luật, nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Phùng Thị Mỹ H là nghiêm trọng. Mặt khác, ma túy nói chung và các chất ma túy ở thể rắn như Methamphetamine nói riêng là chất gây nghiện độc hại, việc sử dụng ma túy đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học tập của chính người sử dụng và đây cũng chính là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung, góp phần vào công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay, nhất là các tội phạm về ma túy. Tuy nhiên, xét bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu (chưa có tiền án, tiền sự); phạm tội trong thời gian mang thai (theo Kết quả siêu âm của Bệnh viện Quận 6 có 01 túi thai trong lòng tử cung khoảng 05 tuần 06 ngày), nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm n, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
[4] Những nhận định trên cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo Phùng Thị Mỹ H còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo phạm tội không vụ lợi, là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Việc xử lý vật chứng:
[6.1] Đối với 01 gói ma túy đã được niêm phong, bên ngoài có ghi vụ số: 4070(1247/24-Quận 6), có chữ ký của Giám định viên Phan Tấn Q và cán bộ điều tra Bùi Ngọc Bảo L. Bên trong chứa tinh thể không màu, có khối lượng 0,2911 gam (mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định); 01 túi nylon màu vàng; 01 ví cầm tay màu đen; 01 cân điện tử (có vỏ màu đen); 01 chai thủy tinh (trên nắp có khoét hai lỗ); 01 hộp giấy màu xanh, bên trong có 10 gói nylon (không chứa gì), là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[6.2] Đối với 01 chiếc điện thoại di động màu xanh, phía sau lưng có ghi chữ Vivo, số Imei 1: 861177059265631, số Imei 2: 861177059265623 (bên trong có 01 sim điện thoại số 0764.609.xxx) thu giữ của bị cáo Phùng Thị Mỹ H. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả lại cho bị cáo vì không đủ căn cứ xác định do bị cáo phạm tội mà có hay bị cáo đã hoặc sẽ dùng vào việc phạm tội. Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 32/PNK ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 68/QĐ-VKS-Q6 ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6; Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa Công an Quận 6 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6)
[7] Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo Phùng Thị Mỹ H, do bị cáo khai không rõ nhân thân lai lịch, nên không có cơ sở điều tra làm rõ, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo Phùng Thị Mỹ H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm n, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Phùng Thị Mỹ H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, được trừ thời gian bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/3/2024 đến ngày 29/3/2024.
- Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói ma túy đã được niêm phong, bên ngoài có ghi vụ số: 4070(1247/24-Quận 6), có chữ ký của Giám định viên Phan Tấn Q và cán bộ điều tra Bùi Ngọc Bảo L. Bên trong chứa tinh thể không màu, có khối lượng 0,2911 (không phẩy hai chín một một) gam; 01 (một) túi nylon màu vàng; 01 (một) ví cầm tay màu đen; 01 (một) cân điện tử (có vỏ màu đen); 01 (một) chai thủy tinh (trên nắp có khoét hai lỗ); 01 (một) hộp giấy màu xanh, bên trong có 10 (mười) gói nylon (không chứa gì).
- Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại bị cáo Phùng Thị Mỹ H 01 (một) chiếc điện thoại di động màu xanh, phía sau lưng có ghi chữ Vivo, số Imei 1: 861177059265631, số Imei 2: 861177059265623, bên trong có 01 (một) sim điện thoại số 0764.609.xxx.
(theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh)
- Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Phùng Thị Mỹ H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bị cáo Phùng Thị Mỹ H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thùy Liên |
Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 71/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm n, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. - Xử phạt bị cáo Phùng Thị Mỹ H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, được trừ thời gian bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/3/2024 đến ngày 29/3/2024. - Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói ma túy đã được niêm phong, bên ngoài có ghi vụ số: 4070(1247/24-Quận 6), có chữ ký của Giám định viên Phan Tấn Q và cán bộ điều tra Bùi Ngọc Bảo L. Bên trong chứa tinh thể không màu, có khối lượng 0,2911 (không phẩy hai chín một một) gam; 01 (một) túi nylon màu vàng; 01 (một) ví cầm tay màu đen; 01 (một) cân điện tử (có vỏ màu đen); 01 (một) chai thủy tinh (trên nắp có khoét hai lỗ); 01 (một) hộp giấy màu xanh, bên trong có 10 (mười) gói nylon (không chứa gì). - Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại bị cáo Phùng Thị Mỹ H 01 (một) chiếc điện thoại di động màu xanh, phía sau lưng có ghi chữ Vivo, số Imei 1: 861177059265631, số Imei 2: 861177059265623, bên trong có 01 (một) sim điện thoại số 0764609235. (theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh) - Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Phùng Thị Mỹ H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. - Bị cáo Phùng Thị Mỹ H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
