Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC KẠN

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HS - ST

Ngày 29/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nông Hữu Thái;

2/ Ông Đỗ Trung Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lộc – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Mai Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2024/HSST, ngày 31 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị P;

tên gọi khác: Không; sinh ngày 14 tháng 6 năm 1977 tại tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ C, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Thế Đ (đã chết) và bà Vũ Thị H; chồng: Phạm Việt H1; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/02/2024 đến ngày 05/03/2024 sau đó được tại ngoại cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Lê Thu H2, sinh năm 1976; trú tại: Tổ C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do.
  2. Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1997; trú tại: Tổ C, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do.
  3. Chị Vũ Thị X, sinh năm 1988; trú tại: Tổ C, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do.
  4. Chị Phạm Thị H3, sinh năm 1968; trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do.
  5. Chị Nguyễn Tuyết P1, sinh năm 1968; trú tại: Tổ A, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do.
  6. Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1978; trú tại: Tổ E, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do.
  7. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1977; trú tại: Tổ E, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do.
  8. Chị Phạm Ngọc T, sinh năm 1999; trú tại: Tổ C, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/02/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại quán N thuộc tổ C, phường S, thành phố B có hoạt động liên quan đến cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã tiến hành kiểm tra, xác minh tại địa điểm trên. Thời điểm kiểm tra tại quán có Nguyễn Thị P (sinh năm 1977, trú tại tổ C, phường P, thành phố B), Vũ Thị X (sinh năm 1988, trú tại tổ C, phường S, thành phố B). Quá trình kiểm tra, P tự nguyện giao nộp số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng). Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION biển kiểm soát 97B2 – 117.67, xe cũ đã qua sử dụng cùng chìa khóa xe; tạm giữ trong cốp xe mô tô 01 giấy vay tiền viết bằng tay; sau đó, Nguyễn Thị P tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu vàng đồng, điện thoại cũ đã qua sử dụng, trong có lắp sim số thuê bao 0973.963.000.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp nhà ở của Nguyễn Thị P tại tổ C, phường P, thành phố B. Kết quả tạm giữ 04 thẻ ngân hàng (trong đó: 01 thẻ của ngân hàng A, 01 thẻ Jaccs Cash C đều mang tên Nguyễn Thị P; 01 thẻ ngân hàng BIDV và 01 thẻ ngân hàng V1 đều mang tên Phạm Việt H1); tạm giữ 03 giấy vay tiền viết tay (02 giấy tên Vũ Thị Thu T1, 01 giấy tên Bạch Thảo L1).

Sau khi biết hành vi của mình đã bị phát hiện, ngày 26/02/2024 Nguyễn Thị P đã đầu thú trước Cơ quan điều tra toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Qua điều tra, Cơ quan điều tra xác định: Từ khoảng tháng 09/2023, Nguyễn Thị P (sinh năm 1977, trú tại tổ C, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn) đã thực hiện hành vi cho người khác vay tiền thông qua hình thức “Bốc bát họ”, với quy ước vay như sau: Quy định 01(Một) bát trong giấy vay tiền giữa Nguyễn Thị P và khách vay là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) nhưng thực tế thì khách chỉ được nhận được số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng) sau đó P sẽ thu tiền lãi và tiền gốc hàng ngày trong vòng 40 ngày, mỗi ngày 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng). Như vậy với 8.000.000đ (Tám triệu đồng) tiền gốc cho vay, trong vòng 40 ngày thì sẽ thu được 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) tiền lãi, trung bình mỗi ngày thu 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) tiền lãi trên 8.000.000₫ (Tám triệu đồng) tiền gốc vay (Tính ra mức lãi trung bình là 6.250₫/1.000.000đ/1ngày = lãi suất 0,625%/1 ngày = 228,1.25%/1năm).

Thông qua hình thức trên, trong khoảng thời gian từ tháng 09/2023 đến tháng 02/2024, Nguyễn Thị P đã cho nhiều người vay tiền với lãi suất 6.250đ/triệu/ngày tương đương 228,125%/năm (Theo cách tính được quy định tại Điều 4 và Điều 5 Thông tư số 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 của Ngân hàng NI), vượt quá mức lãi suất tối đa được pháp luật cho phép là 20%/năm, thu lợi bất chính trên 30.000.000 đồng. Cụ thể:

1. Đối với Lê Thu H2, sinh năm 1976, trú tại tổ C, phường Đ, thành phố B.

Ngày 24/9/2023, chị H2 vay P 02 “bát họ”, tương đương số tiền là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) và có viết giấy vay với P, nhưng P chỉ đưa cho chị H2 số tiền thực tế là 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng) và yêu cầu chị H2 phải trả số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) trong thời hạn là 40 ngày, mỗi ngày chị H2 phải trả cho P là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), trả đều trong vòng 40 ngày thì P thu được số tiền là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), trong đó 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng) là tiền gốc và 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) tiền lãi. Chị H2 đã trả xong khoản vay này đúng hạn theo thoả thuận, P thu về 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), trong đó 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng) là tiền gốc, còn 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) là tiền lãi.

Theo quy định về mức lãi suất tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự hiện hành, thì lãi suất theo thoả thuận không được vượt quá 20%/ năm của khoản tiền vay.

Do vậy, với khoản vay này P chỉ được phép thu lãi của chị H2 theo quy định của pháp luật được tính như sau (Tiền gốc đã thu x 0,2 x 40 ngày thu sau đó chia cho 365 ngày). Như vậy áp dụng theo cách tính trên thì 16.000.000đ x 0,2 x 40 : 365 = 350.685đ là tiền lãi hợp pháp. Còn số tiền thu lợi bất chính của khoản vay này là lấy số tiền lãi đã thu trừ đi số tiền lãi hợp pháp 4.000.000₫ - 350.685đ = 3.649.315 đồng (đây là tiền thu lãi bất chính).

Ngày 10/12/2023, chị H2 vay P 02 “bát họ” tương đương số tiền là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) và có viết giấy vay tiền, với hình thức tương tự như trên. Chị H2 đã trả xong khoản vay này đúng hạn theo thoả thuận, P thu về 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), trong đó 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng) là tiền gốc, còn 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) là tiền lãi. T2 lợi bất chính là: 3.649.315₫.

Ngày 24/12/2023, chị H2 vay P 01 “bát họ” tương đương số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) và có viết giấy vay tiền, với hình thức như trên. Chị H2 đã trả xong khoản vay này đúng hạn, P thu về 10.000.000₫ (Mười triệu đồng), trong đó 8.000.000đ (Tám triệu đồng) là tiền gốc, còn 2.000.000đ (Hai triệu đồng) là tiền lãi. T2 lợi bất chính là: 1.824.658 đồng.

Tổng số tiền Nguyễn Thị P thu lợi bất chính từ chị Lê Thu H2 là 9.123.288₫ (Chín triệu một trăm hai mươi ba nghìn hai trăm tám mươi tám đồng).

2. Đối với Nguyễn Thị D, sinh năm 1997, trú tại tổ C, phường P, thành phố B.

Ngày 29/10/2023, chị D vay P 01 “bát họ” tương đương số tiền là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) và có viết giấy vay tiền, tương tự cách thức trên, P chỉ đưa cho chị D số tiền là 8.000.000đ (Tám triệu đồng), nhưng yêu cầu chị D phải trả số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) trong thời hạn 40 ngày, mỗi ngày chị D phải trả cho P là 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng), trả đều trong vòng 40 ngày thì P thu được số tiền là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng), trong đó 8.000.000₫ (Tám triệu đồng) tiền gốc và 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) tiền lãi. Chị D đã trả xong khoản vay này đúng hạn theo thoả thuận, P thu về 10.000.000₫ (Mười triệu đồng), trong đó 8.000.000đ (Tám triệu đồng) là tiền gốc, còn 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) là tiền lãi. T2 lợi bất chính số tiền: 1.824.658 đồng (Một triệu tám trăm hai mươi tư nghìn sáu trăm năm tám đồng).

Ngày 28/12/2023, chị D vay P 01 “bát họ” tương đương số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) và có viết giấy vay tiền, với hình thức tương tự như trên. Chị D đã trả xong cho khoản vay này đúng hạn theo thoả thuận, P thu về 10.000.000đ (Mười triệu đồng), trong đó 8.000.000đ (Tám triệu đồng) là tiền gốc, còn 2.000.000 (Hai triệu đồng) là tiền lãi. Tiền thu lợi bất chính là: 1.824.658 đồng (Một triệu tám trăm hai mươi tư nghìn sáu trăm năm tám đồng).

Ngày 10/01/2024, chị D vay P 0,5 “bát họ” tương đương số tiền là 5.000.000đ (Năm triệu đồng) và có viết giấy vay tiền, với hình thức như trên. Chị D đã trả xong khoản vay này đúng hạn theo thoả thuận, P thu về 5.000.000đ (Năm triệu đồng), trong đó 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) là tiền gốc, còn 1.000.000đ (Một triệu đồng) là tiền lãi. T2 lợi bất chính số tiền: 912.329 đồng (Chín trăm mười hai nghìn ba trăm hai chín đồng).

Ngày 19/01/2024, chị D vay P 01 “bát họ” tương đương số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) và có viết giấy vay tiền, với hình thức như trên. Đối với khoản vay này đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện hành vi vi phạm của P, chị D đã trả được 38 ngày, mỗi ngày 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng), P đã thu được số tiền là 9.500.000đ (Chín triệu năm trăm nghìn đồng), trong đó 7.600.000₫ (Bảy triệu sáu trăm nghìn đồng) là tiền gốc, còn 1.900.000đ (Một triệu chín trăm nghìn đồng) là tiền lãi. Tiền gốc chưa thu 02 ngày là 400.000đ. T2 lợi bất chính số tiền: 1.741.753 đồng (Một triệu bảy trăm bốn mốt nghìn bảy trăm năm ba đồng).

Ngày 04/02/2024, chị D vay P 01 “bát họ” tương đương số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) và có viết giấy vay tiền, với hình thức như trên. Đối với khoản vay này đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện hành vi vi phạm của P, chị D đã trả được 17 ngày, mỗi ngày 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng), P đã thu được số tiền là 4.250.000₫ (Bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), trong đó 3.400.000₫ (Ba triệu bốn trăm nghìn đồng) là tiền gốc, còn 850.000đ (T3 trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền lãi. Tiền gốc chưa thu 23 ngày là 4.600.000đ. T2 lợi bất chính số tiền: 818.329 đồng (T3 trăm mười tám nghìn ba trăm hai chín đồng).

Ngày 22/02/2024, chị D vay P 01 “bát họ” tương đương số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) và có viết giấy vay tiền, với hình thức như trên. Đối với khoản vay này đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện hành vi vi phạm của P, chị D đã trả được 03 ngày, mỗi ngày 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng), P đã thu được số tiền là 750.000₫ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng), trong đó 600.000₫ là tiền gốc, còn 150.000đ là tiền lãi. Tiền gốc chưa thu 37 ngày là 7.400.000đ. T2 lợi bất chính số tiền: 149.014 đồng (Một trăm bốn chín nghìn không trăm mười bốn đồng).

Tổng số tiền Nguyễn Thị P thu lợi bất chính từ chị Nguyễn Thị D là 7.270.741đ (Bẩy triệu hai trăm bẩy mươi nghìn bẩy trăm bốn mốt đồng).

3. Đối với Vũ Thị X, sinh năm 1988, trú tại tổ C, phường S, thành phố B.

Ngày 26/9/2023, chị X vay P 01 “bát họ” tương đương số tiền là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) và có viết giấy vay tiền, tương tự cách thức trên, P chỉ đưa cho chị X số tiền là 8.000.000đ (Tám triệu đồng), nhưng yêu cầu chị X phải trả số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) trong thời hạn là 40 ngày, mỗi ngày chị X phải trả cho P là 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng), trả đều trong vòng 40 ngày thì P thu được số tiền là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng), trong đó 8.000.000đ (Tám triệu đồng) là tiền gốc và 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) là tiền lãi. Chị X đã trả xong khoản vay này đúng hạn theo thoả thuận, P thu về 10.000.000₫ (Mười triệu đồng), trong đó 8.000.000đ (Tám triệu đồng) là tiền gốc, còn 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) là tiền lãi. T2 lợi bất chính số tiền: 1.824.658 đồng (Một triệu tám trăm hai mươi tư nghìn sáu trăm năm tám đồng).

Ngày 29/12/2023, chị X vay P 02 “bát họ” tương đương số tiền là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) và có viết giấy vay tiền, với hình thức như trên. Chị X đã trả xong khoản vay này đúng hạn theo thoả thuận, P thu về 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), trong đó 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng) là tiền gốc, còn 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) là tiền lãi. T2 lợi bất chính số tiền: 3.649.315 đồng (Ba triệu sáu trăm bốn chín nghìn ba trăm mười năm đồng).

Ngày 07/01/2024, chị X vay P 01 “bát họ” tương đương số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) và có viết giấy vay tiền, với hình thức như trên. Chị X đã trả xong khoản vay này đúng hạn theo thoả thuận, P thu về 10.000.000₫ (Mười triệu đồng), trong đó 8.000.000₫ (Tám triệu đồng) là tiền gốc, còn 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) là tiền lãi. T2 lợi bất chính số tiền: 1.824.658 đồng (Một triệu tám trăm hai mươi tư nghìn sáu trăm năm tám đồng).

Ngày 17/01/2024, chị X vay P 01 “bát họ” tương đương số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) và có viết giấy vay tiền, với hình thức như trên. Đối với khoản vay này đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện hành vi vi phạm của P, chị X đã trả được 35 ngày, mỗi ngày 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng), P đã thu được số tiền là 8.750.000đ (Tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), trong đó 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng) là tiền gốc, còn 1.750.000đ (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền lãi. Tiền gốc chưa thu 05 ngày là 1.000.000đ. T2 lợi bất chính số tiền: 1.615.753 đồng (Một triệu sáu trăm mười năm nghìn bảy trăm năm ba đồng).

Ngày 21/01/2024, chị X vay P 01 “bát họ” tương đương số tiền là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) và có viết giấy vay tiền, với hình thức như trên. Đối với khoản vay này đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện hành vi vi phạm của P, chị X đã trả được 31 ngày, mỗi ngày 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng), P đã thu được số tiền là 7.750.000₫ (Bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), trong đó 6.200.000₫ (Sáu triệu hai trăm nghìn đồng) tiền gốc, còn 1.550.000đ (Một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền lãi. Tiền gốc chưa thu 09 ngày là 1.800.000đ. T2 lợi bất chính số tiền: 1.444.685 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi bốn nghìn sáu trăm tám năm đồng).

Tổng số tiền Nguyễn Thị P thu lợi bất chính từ chị Vũ Thị X là 10.359.069₫ (Mười triệu ba trăm năm mươi chín nghìn không trăm sáu chín đồng).

4. Đối với Phạm Thị H3, sinh năm 1968, trú tại tổ A, phường Đ, thành phố B.

Ngày 14/10/2023, chị H3 vay P 02 “bát họ” tương đương số tiền là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) và có viết giấy vay, tương tự cách thức trên, P chỉ đưa cho chị H3 số tiền là 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng), nhưng yêu cầu chị H3 phải trả số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) trong thời hạn là 40 ngày, mỗi ngày chị H3 phải trả cho P là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), trả đều trong vòng 40 ngày thì P thu được số tiền là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), trong đó 16.000.000₫ (Mười sáu triệu đồng) là tiền gốc và 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) là tiền lãi. Chị H3 đã trả xong khoản vay này đúng hạn theo thoả thuận, P thu về 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), trong đó 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng) là tiền gốc, còn 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) là tiền lãi. T2 lợi bất chính số tiền: 3.649.315 đồng (Ba triệu sáu trăm bốn mươi chín nghìn ba trăm mười năm đồng).

Ngày 03/01/2024, chị H3 vay P 01 “bát họ” tương đương số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) và có viết giấy vay tiền, với hình thức như trên. Đối với khoản vay này đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện hành vi vi phạm của P, chị H3 đã trả được 26 ngày, mỗi ngày 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng), P đã thu được số tiền là 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng) trong đó 5.200.000đ (Năm triệu hai trăm nghìn đồng) là tiền gốc, còn 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng) là tiền lãi. Tiền gốc chưa trả 14 ngày là 2.800.000đ. T2 lợi bất chính số tiền: 1.225.918 đồng (Một triệu hai trăm hai mươi năm nghìn chín trăm mười tám đồng).

Ngày 06/01/2024, chị H3 vay P 01 “bát họ” tương đương số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) và có viết giấy vay tiền, với hình thức như trên. Đối với khoản vay này đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện hành vi vi phạm của P, chị H3 đã trả được 23 ngày, mỗi ngày 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng), P đã thu được số tiền là 5.750.000đ (Năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) trong đó 4.600.000₫ (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) là tiền gốc, còn 1.150.000₫ (Một triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền lãi. Tiền gốc chưa thu 17 ngày là 3.400.000đ. T2 lợi bất chính số tiền: 1.092.027 đồng (Một triệu không trăm chín mươi hai nghìn không trăm hai bảy đồng).

Ngày 15/01/2024, chị H3 vay P 02 “bát họ” tương đương số tiền là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) và có viết giấy vay tiền, với hình thức như trên. Đối với khoản vay này đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện hành vi vi phạm của P, chị H3 đã trả được 14 ngày, mỗi ngày 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), P đã thu được số tiền là 7.000.000đ (Bẩy triệu đồng) trong đó 5.600.000đ (Năm triệu sáu trăm nghìn đồng) là tiền gốc, còn 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) là tiền lãi. Tiền gốc chưa thu 26 ngày là 10.400.000đ. T2 lợi bất chính số tiền: 1.357.041 đồng (Một triệu ba trăm năm mươi bảy nghìn không trăm bốn mốt đồng).

Tổng số tiền Nguyễn Thị P thu lợi bất chính từ chị Phạm Thị H3 là 7.324.301₫ (Bảy triệu ba trăm hai mươi bốn nghìn ba trăm linh một đồng).

5. Đối với Nguyễn Tuyết P1, sinh năm 1968, trú tại tổ A, phường P, thành phố B.

Ngày 19/11/2023, chị P1 vay P 01 “bát họ” tương đương số tiền là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) và có viết giấy vay, tương tự cách thức trên, P chỉ đưa cho chị P1 số tiền là 8.000.000đ (Tám triệu đồng), nhưng yêu cầu chị P1 phải trả số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) trong thời hạn là 40 ngày, mỗi ngày chị P1 phải trả P là 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng), trả đều trong vòng 40 ngày thì P thu được số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng), trong đó 8.000.000₫ (Tám triệu đồng) là tiền gốc và 2.000.000đ (Hai triệu đồng) là tiền lãi. Chị P1 đã trả xong khoản vay này đúng hạn theo thoả thuận, P thu về 10.000.000đ (Mười triệu đồng), trong đó 8.000.000đ (Tám triệu đồng) là tiền gốc, còn 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) là tiền lãi. T2 lợi bất chính số tiền là: 1.824.658 đồng (Một triệu tám trăm hai mươi bốn nghìn sáu trăm năm tám đồng).

Tổng số tiền Nguyễn Thị P thu lợi bất chính từ chị Nguyễn Tuyết P1 là 1.824.658đ (Một triệu tám trăm hai mươi bốn nghìn sáu trăm năm tám đồng).

6. Đối với Nguyễn Thị V, sinh năm 1978, trú tại tổ E, phường P, thành phố B.

Ngày 29/11/2023, chị V vay P 01 “bát họ” tương đương số tiền là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) và có viết giấy vay, tương tự cách thức trên, P chỉ đưa cho chị V số tiền là 8.000.000đ (Tám triệu đồng), nhưng yêu cầu chị V phải trả số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) trong thời hạn là 40 ngày, mỗi ngày chị V phải trả P là 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng), trả đều trong vòng 40 ngày thì P thu được số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng), trong đó 8.000.000₫ (Tám triệu đồng) là tiền gốc và 2.000.000đ (Hai triệu đồng) là tiền lãi. Chị V đã trả xong khoản vay này đúng hạn theo thoả thuận, P thu về 10.000.000đ (Mười triệu đồng), trong đó 8.000.000đ (Tám triệu đồng) là tiền gốc, còn 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) là tiền lãi. Số tiền thu lợi bất chính là: 1.824.658 đồng (Một triệu tám trăm hai mươi bốn nghìn sáu trăm năm tám đồng).

Ngày 25/12/2023, chị V vay P 01 “bát họ” tương đương số tiền là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) và có viết giấy vay tiền, với hình thức như trên. Chị V đã trả xong khoản vay này đúng hạn theo thoả thuận, P thu về 10.000.000₫ (Mười triệu đồng), trong đó 8.000.000₫ (Tám triệu đồng) là tiền gốc, còn 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) là tiền lãi. T2 lợi bất chính 1.824.658 đồng (Một triệu tám trăm hai mươi bốn nghìn sáu trăm năm tám đồng).

Tổng số tiền Nguyễn Thị P thu lợi bất chính từ chị Nguyễn Thị V là 3.649.316đ (Ba triệu sáu trăm bốn mươi chín nghìn ba trăm mười sáu đồng).

7. Đối với Nguyễn Thị L (tên thường gọi là X1), sinh năm 1977, trú tại tổ E, phường P, thành phố B.

Ngày 19/01/2024, chị L vay P 02 “bát họ” tương đương số tiền là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) và có viết giấy vay, tương tự cách thức trên, P chỉ đưa cho chị L số tiền là 16.000.000₫ (Mười sáu triệu đồng), nhưng yêu cầu chị L phải trả số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) trong thời hạn là 40 ngày, mỗi ngày chị L phải trả cho P là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), trả đều trong vòng 40 ngày thì P thu được số tiền là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), trong đó 16.000.000₫ (Mười sáu triệu đồng) là tiền gốc và 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) là tiền lãi. Đối với khoản vay này đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện hành vi vi phạm của P, chị L đã trả được 35 ngày, mỗi ngày 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), P đã thu được số tiền là 17.500.000₫ (Mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng) trong đó 14.000.000₫ (Mười bốn triệu đồng) là tiền gốc, còn lại 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền lãi. Tiền gốc chưa thu 05 ngày là 2.000.000 đồng. T2 lợi bất chính 3.231.507 đồng (Ba triệu hai trăm ba mươi mốt nghìn năm trăm linh bảy đồng).

Ngày 30/01/2024, chị L vay P 02 “bát họ” tương đương số tiền là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) và có viết giấy vay tiền, với hình thức như trên. Đối với khoản vay này đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện hành vi vi phạm của P, chị L đã trả được 21 ngày, mỗi ngày 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng), P đã thu được số tiền là 10.500.000đồng (Mười triệu năm trăm nghìn đồng) trong đó 8.400.000đồng (T3 triệu bốn trăm nghìn đồng) là tiền gốc, còn lại 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm nghìn đồng) là tiền lãi. Tiền gốc chưa thu 19 ngày là 7.600.000đồng. T2 lợi bất chính 2.003.342 đồng (Hai triệu không trăm linh ba nghìn ba trăm bốn hai đồng).

Tổng số tiền Nguyễn Thị P thu lợi bất chính từ chị Nguyễn Thị L là 5.234.849đ (Năm triệu hai trăm ba tư nghìn tám trăm bốn chín đồng).

Như vậy, tổng số tiền thu lợi bất chính từ những người vay tiền mà Nguyễn Thị P phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này là: 44.786.222 đồng (Bốn mươi bốn triệu bảy trăm tám sáu nghìn hai trăm hai mươi hai đồng).

Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Nguyễn Thị P thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra thu thập được.

Tại bản Cáo trạng số 53/CT - VKSTPBK ngày 28 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị P về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Điều 201 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhấtđịnh trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

...

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Tại phiên toà:

*Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự".

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi 27 ngày cải tạo không giam giữ quy đổi từ 9 ngày tạm giữ (từ ngày 26/02/2024 đến ngày 05/03/2024). Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị P cho UBND phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn giám sát giáo dục trong thời gian thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

- Khấu trừ thu nhập: Đề nghị miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo.

- Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

+ Tịch thu hóa giá sung Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Pro Max màu vàng đồng, màn hình cảm ứng, máy cũ đã qua sử dụng có số IMEI: 351572592039120, IMEI2: 351572592076999.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 xác sim có số thuê bao 0973963000.

+ Trả lại cho bị cáo P: 04 (bốn) thẻ Ngân hàng trong đó: 01 (một) thẻ Ngân hàng A có số thẻ: 9704053073891565 mang tên NGUYEN THI PHUONG; 01 (một) thẻ Ngân hàng B có số thẻ: 9704180081150906 mang tên PHAM VIET HUNG; 01 (một) thẻ Ngân hàng V2 có số thẻ: 9704151539858754 mang tên PHAM VIET HUNG; 01 (một) thẻ JACCS CASH CARD có số thẻ: 4211938090014711 mang tên NGUYEN THỊ PHUONG;

+ Tạm giữ số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) của bị cáo để bảo đảm thi hành án.

+ Truy thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền bị cáo dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội là 194.600.000 đồng (Một trăm chín mươi tư triệu sáu trăm nghìn đồng); số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà bị cáo đã thu của người vay là 3.863.778 đồng (Ba triệu tám trăm sáu mươi ba nghìn bảy trăm bảy mươi tám đồng), tổng số tiền truy thu của bị cáo là 198.463.778 đồng (Một trăm chín mươi tám triệu bốn trăm sáu mươi ba nghìn bảy trăm bảy mươi tám đồng).

+ Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền gốc mà những người vay chưa thanh toán cho bị cáo với tổng số tiền là 41.400.000 đồng, bao gồm: Truy thu của chị Nguyễn Thị D số tiền 12.400.000 đồng; Truy thu của chị Vũ Thị X số tiền 2.800.000 đồng; Truy thu của chị Phạm Thị H3 số tiền 16.600.000 đồng; Truy thu của chị Nguyễn Thị L số tiền 9.600.000 đồng.

+ Đối với khoản tiền thu lời bất chính mà bị cáo đã thu của người vay vượt mức lãi suất quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự là 44.786.222 đồng. Tuy nhiên những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thu H2, Nguyễn Thị D, Vũ Thị X, Phạm Thị H3, Nguyễn Tuyết P1, Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị L đều không yêu cầu bị cáo phải trả cho họ khoản tiền này do vậy căn cứ mục 3 của Công văn số 233/TANDTC, ngày 01/10/2019 của Tòa án nhân dân Tối cao và áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo cần ghi nhận sự tự nguyện của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và không yêu cầu bị cáo phải truy nộp số tiền 44.786.222 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

*Bị cáo Nguyễn Thị P thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo nhất trí với mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

*Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thu H2, Nguyễn Thị D, Vũ Thị X, Phạm Thị H3, Nguyễn Tuyết P1, Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị L vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn trình bày rõ họ không yêu cầu bị cáo phải trả lại khoản tiền thu lợi bất chính mà bị cáo đã thu của họ và đề nghị Tòa án xét xử theo quy định của pháp luật.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Ngọc T vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn trình bày rõ chị có cho bị cáo P mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu đỏ, nâu, đen, BKS 97B2 – 117.67, để làm phương tiện đi lại. Việc bị cáo P sử dụng chiếc xe vào mục đích gì thì chị không biết. Đến nay, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị chiếc xe trên. Do vậy chị không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị P thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án do vậy có căn cứ xác định:

Trong khoảng thời gian từ tháng 09/2023 đến tháng 02/2024, Nguyễn Thị P đã cho Lê Thu H2, Nguyễn Thị D, Vũ Thị X, Phạm Thị H3, Nguyễn Tuyết P1, Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị L vay tiền thông qua hình thức “bốc bát họ” với tổng số tiền gốc cho vay là 236.000.000đ (Hai trăm ba sáu triệu đồng), trong đó 17 “bát họ” đã thu đủ đúng thời hạn theo thoả thuận, còn 13 “bát họ” do bị Cơ quan Công an phát hiện hành vi vi phạm của Nguyễn Thị P nên chưa thu đủ số ngày. Tổng tiền lãi Nguyễn Thị P thu về là 48.650.000đ (Bốn mươi tám triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) với lãi suất 6.250đ/triệu/ngày tương đương 228,125%/năm, cao gấp 11,41 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự và thu lợi bất chính số tiền là 44.786.222 đồng (Bốn mươi bốn triệu bảy trăm tám sáu nghìn hai trăm hai mươi hai đồng).

Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có hiểu biết nhất định về pháp luật, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì điều kiện hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và lợi ích trước mắt nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và làm cho người vay lâm vào tình trạng khó khăn, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội. Do vậy, cần xử lý theo pháp luật hình sự.

[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Bị cáo không phải tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, khi biết hành vi của mình bị phát hiện bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú, khai báo trung thực toàn bộ hành vi phạm tội của mình và chồng của bị cáo là ông Phạm Việt H1 là người có thành tích xuất sắc trong công tác, năm 2009 được Chủ tịch UBND tỉnh B tặng Bằng khen, năm 2020 được Chủ tịch UBND tỉnh B tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua tỉnh Bắc Kạn, do vậy bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ khác theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, chồng bị tai biến nặng, mất sức lao động, nằm một chỗ, bị cáo vừa phải chăm sóc chồng, lại phải lo kinh tế gia đình, nuôi các con ăn học. Bản thân bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, trong lúc hoàn cảnh túng quẫn, để có tiền điều trị bệnh cho chồng và nuôi các con ăn học nên bị cáo đã thực hiện việc phạm tội. Xét hoàn cảnh của bị cáo như trên, thấy rằng việc áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo là không khả thi. Do vậy HĐXX cân nhắc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập đối với bị cáo: Như trên đã nhận định, do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, chồng bị tai biến nặng, mất sức lao động, nằm một chỗ, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, bị cáo lại phải truy nộp số tiền lớn liên quan đến việc phạm tội. Việc áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và khấu trừ thu nhập hàng tháng của bị cáo là không khả thi. Do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 50 Bộ luật hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử xử lý như sau:

  • Đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Pro Max màu vàng đồng, màn hình cảm ứng, máy cũ đã qua sử dụng có số IMEI: 351572592039120, IMEI2: 351572592076999, là chiếc điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc và nhắn tin, chuyển khoản thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu hóa giá sung vào Ngân sách Nhà nước.
  • Đối với 01 thẻ sim số 0973963000 gắn theo chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Pro Max, hiện không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 04 (bốn) thẻ Ngân hàng trong đó: 01 (một) thẻ Ngân hàng A có số thẻ: 9704053073891565 mang tên NGUYEN THI PHUONG; 01 (một) thẻ Ngân hàng B có số thẻ: 9704180081150906 mang tên PHAM VIET HUNG; 01 (một) thẻ Ngân hàng V2 có số thẻ: 9704151539858754 mang tên PHAM VIET HUNG; 01 (một) thẻ JACCS CASH CARD có số thẻ: 4211938090014711 mang tên NGUYEN THỊ PHUONG. Quá trình điều tra xác định có 02 thẻ Ngân hàng mang tên ông Phạm Việt H1. Tuy nhiên 02 thẻ Ngân hàng này do bị cáo P là người quản lý, sử dụng. Do ông H1 bị tai biến, liệt nửa người, hiện không đi lại và không nói được nên Tòa án không triệu tập ông H1 tham gia tố tụng trong vụ án này. Xét các thẻ Ngân hàng trên là vật thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo P và ông H1 (Là chồng của bị cáo), nên trả lại cho bị cáo P là phù hợp.
  • Đối với số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tạm giữ của bị cáo, qua điều tra xác định là tiền của bị cáo P, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án cho bị cáo.
  • Đối với 04 (bốn) giấy vay tiền Cơ quan điều tra lưu theo hồ sơ vụ án là phù hợp.
  • Đối với 01 (Một) chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97B2 – 117.67, nhãn hiệu HONDA VISION, màu sơn đỏ nâu đen, số máy: JK03E2433546, số khung: RLHJK0317MY527186, xe cũ đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Phạm Ngọc T (sinh năm 1999, trú tại tổ C, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn là con gái của bị cáo P). Chị T cho mẹ đẻ mượn xe để làm phương tiện đi lại từ khoảng tháng 01 năm 2024. Việc bị cáo P sử dụng xe và thực hiện hành vi phạm tội chị T không biết. Do chị T cần phương tiện để đi lại và chăm sóc bố đẻ bị bệnh, nên chị T có đơn xin lại chiếc xe trên. Xét thấy việc trả lại tài sản không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, ngày 25/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Phạm Ngọc T là đúng quy định.
  • Đối với tổng số tiền gốc mà bị cáo đã cho vay là 236.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi sáu triệu đồng). Tuy nhiên, tính đến thời điểm bị cáo bị phát hiện hành vi phạm tội số tiền gốc mà bị cáo cho vay thu được 194.600.000 đồng (Một trăm chín mươi tư triệu sáu trăm nghìn đồng). Đây là số tiền dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, cần truy thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • Đối với số tiền gốc mà những người vay chưa trả đủ cho bị cáo với tổng số tiền là 41.400.000 đồng. Cần buộc những người vay phải nộp để sung vào ngân sách nhà nước gồm: Chị Nguyễn Thị D phải nộp số tiền 12.400.000 đồng; chị Vũ Thị X phải nộp số tiền 2.800.000 đồng; chị Phạm Thị H3 phải nộp số tiền 16.600.000 đồng; chị Nguyễn Thị L phải nộp số tiền 9.600.000 đồng.
  • Đối với số tiền lãi pháp luật cho phép tương ứng với mức lãi suất 20%/năm không bị tính khi xác định trách nhiệm hình sự, do đó cần buộc bị cáo Nguyễn Thị P phải nộp lại số tiền 3.863.778 đồng (Ba triệu tám trăm sáu mươi ba nghìn bảy trăm bảy mươi tám đồng) để sung vào Ngân sách nhà nước.
  • Đối với khoản tiền thu lời bất chính mà bị cáo đã thu của người vay vượt mức lãi suất quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự là 44.786.222 đồng. Tuy nhiên những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thu H2, Nguyễn Thị D, Vũ Thị X, Phạm Thị H3, Nguyễn Tuyết P1, Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị L đều không yêu cầu bị cáo phải trả cho họ khoản tiền thu lời bất chính. Căn cứ mục 3 Công văn số 233/TANDTC-PC, ngày 01/10/2019 của Tòa án nhân dân Tối cao và áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo, cần ghi nhận sự tự nguyện của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và không yêu cầu bị cáo phải truy nộp số tiền 44.786.222 đồng.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về các tình tiết khác:

  • Đối với Vũ Thị Thu T1 (sinh năm 1986, Trú tại tổ D, phường S, thành phố B). Quá trình khám xét chỗ ở của Nguyễn Thị P Cơ quan điều tra đã thu giữ 02 giấy vay tiền.

    Lần 1: Ngày 06/11/2023, chị T1 vay P 0,5 “bát họ” tương đương số tiền là 5.000.000đ (Năm triệu đồng) và có viết giấy vay tiền, nhưng thực tế P chỉ đưa cho chị T1 số tiền là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) và yêu cầu chị T1 phải trả trong thời hạn là 40 ngày, mỗi ngày chị T1 phải trả là 125.000đ (Một trăm hai năm nghìn đồng).

    Lần 2: Ngày 10/11/2023, chị T1 tiếp tục vay Phương 0,5 “bát họ” tương đương số tiền là 5.000.000đ (Năm triệu đồng) với hình thức như trên. Tuy nhiên đối với 02 lần vay trên thì chị T1 đã trả cho P tổng số tiền 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng), còn thiếu số tiền 2.000.000đ là tiền gốc và 2.000.000đ là tiền lãi. Quá trình điều tra, xác minh cả chị T1 và P đều không nhớ được chi tiết cụ thể từng ngày chị T1 trả tiền cho P của 02 lần vay tiền trên, do vậy không có cơ sở, căn cứ để tính số tiền đã thu được khoản nào là tiền gốc và khoản nào là tiền lãi, để xác định số tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Thị P đối với khoản vay của chị T1.

  • Đối với Bạch Thảo L1 (trú tại tổ E, phường S, thành phố B). Quá trình khám xét chỗ ở của Nguyễn Thị P Cơ quan điều tra thu giữ 01 giấy vay tiền qua làm việc P xác định: Ngày 26/9/2023, chị L1 vay P 0,5 “bát họ” tương đương số tiền là 5.000.000đ (Năm triệu đồng) và có viết giấy vay tiền, khi vay P chỉ đưa cho chị L1 số tiền thực tế là 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) và yêu cầu chị L1 phải trả trong thời hạn là 40 ngày. Tuy nhiên đến thời điểm bị phát hiện, chị Bạch Thảo L1 chưa trả cho P được lần nào cả tiền gốc và tiền lãi. Qua xác minh, Bạch Thảo L1 hiện không có mặt tại địa phương, L1 đi đâu, làm gì không rõ. Do vậy, Cơ quan điều tra không triệu tập được để lấy lời khai, không đủ căn cứ xác định việc có cho vay lãi hay không đối với khoản vay này của chị L1.
  • Đối với 07 người vay gồm: Lê Thu H2, Nguyễn Thị D, Vũ Thị X, Phạm Thị H3, Nguyễn Tuyết P1, Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị L, Cơ quan điều tra đã làm rõ: Xác định đều là những người cần có tiền để giải quyết công việc cá nhân nên đã hỏi, trao đổi và vay tiền với Nguyễn Thị P. Những người trên đều là người chủ động tìm đến P để vay tiền, không bị ai xúi giục hay ép buộc gì, mặc dù biết trước khi vay tiền sẽ phải chịu số tiền lãi cao nhưng do nhu cầu cá nhân nên vẫn chấp nhận, những người vay là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều không có yêu cầu về bồi thường dân sự.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

2. Điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi 27 ngày cải tạo không giam giữ quy đổi từ 9 ngày tạm giữ (từ ngày 26/02/2024 đến ngày 05/03/2024). Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị P cho UBND phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn giám sát giáo dục trong thời gian thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu hóa giá sung Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Pro Max màu vàng đồng, màn hình cảm ứng, máy cũ đã qua sử dụng có số IMEI: 351572592039120, IMEI2: 351572592076999.
  • + Tịch thu tiêu hủy 01 xác sim có số thuê bao 0973963000.
  • + Trả lại cho bị cáo P: 04 (bốn) thẻ Ngân hàng trong đó: 01 (một) thẻ Ngân hàng A có số thẻ: 9704053073891565 mang tên NGUYEN THI PHUONG; 01 (một) thẻ Ngân hàng B có số thẻ: 9704180081150906 mang tên PHAM VIET HUNG; 01 (một) thẻ Ngân hàng V2 có số thẻ: 9704151539858754 mang tên PHAM VIET HUNG; 01 (một) thẻ JACCS CASH CARD có số thẻ: 4211938090014711 mang tên NGUYEN THI PHUONG;
  • + Tạm giữ số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) của bị cáo để bảo đảm thi hành án.
  • (Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn).
  • + Buộc bị cáo Nguyễn Thị P phải nộp tổng số tiền là 198.463.778 đồng (Một trăm chín mươi tám triệu, bốn trăm sáu mươi ba nghìn, bảy trăm bảy mươi tám đồng) để sung vào Ngân sách nhà nước.
  • + Buộc những người vay phải nộp để sung vào Ngân sách nhà nước tổng số tiền là 41.400.000 đồng, gồm: Chị Nguyễn Thị D phải nộp số tiền 12.400.000 đồng; chị Vũ Thị X phải nộp số tiền 2.800.000 đồng; chị Phạm Thị H3 phải nộp số tiền 16.600.000 đồng; chị Nguyễn Thị L phải nộp số tiền 9.600.000 đồng.

4. Về án phí:

Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo:

Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BK;
  • - VKSND tỉnh BK;
  • - VKSND TP Bắc Kạn;
  • - Công an TP Bắc Kạn;
  • - THADS TP Bắc Kạn;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QL,NVLQ;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nguyệt Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HS - ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 71/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ph phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger