TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29/5/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Thể
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Vũ Ngọc Côn
2. Bà Nguyễn Thị Công Mừng
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 34/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QÐST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/QÐST- HNGĐ ngày 08/5/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lý Thị T, sinh năm 1992 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Lý Thị T trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn Q kết hôn với nhau vào ngày 21/10/2008, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh chị được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và cưới xong chị về làm dâu ngay nhà anh Q, anh chị chung sống tại thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc.
Đến năm 2020 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, anh Q nghiện ngập không quan tâm đến con cái, không cùng nhau phát triển kinh tế chung của gia đình. Gia đình họ hàng hai bên cũng có hòa giải cho vợ chồng nhưng không thành. Chị và anh Q đã ly thân từ năm 2020 đến nay không còn liên lạc gì với nhau nữa. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn Q có 01 con chung là Nguyễn Thành D, sinh ngày 27/04/2009, con chung hiện tại đang ở với chị. Nay ly hôn, chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Cấp dưỡng nuôi con chung: Chị và anh Nguyễn Văn Q tự thoả thuận không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ và niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Nguyễn Văn Q không cung cấp văn bản ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Lý Thị T, không tham dự phiên họp, phiên hòa giải nên Tòa án không thu thập lời khai, ý kiến của anh Nguyễn Văn Q được.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/02/2024, bà Ngô Thị L (là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn Q) trình bày: Chị Lý Thị T và anh Nguyễn Văn Q trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện, không ai ép được, được gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào năm 2018. Sau ngày cưới hai vợ chồng cùng nhau chung sống tại thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc. Đến đầu năm 2020 thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh Q nghiện ngập không quan tâm đến gia đình. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2020 đến nay.
Về con chung: Chị Lý Thị T và anh Nguyễn Văn Q có 01 con chung là Nguyễn Thành D, sinh ngày 27/04/2009.
Còn đối với anh Nguyễn Văn Q anh bị nghiện từ năm 2020, không thường xuyên có mặt tại địa phương, có tuần về 01-02 lần, anh thường xuyên đi rừng còn cụ thể đi làm gì thì bà không biết. Anh Q có biết chị T khởi kiện ly hôn anh, anh hoàn toàn đồng ý ly hôn với chị T, còn đối với con chung anh đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/01/2024, cháu Nguyễn Thành D trình bày: Cháu là con của bố Nguyễn Văn Q và mẹ Nguyễn Thị T1, cháu được biết bố mẹ cháu làm thủ tục ly hôn tại Toà án, nếu bố mẹ cháu kiên quyết ly hôn không ở được với nhau cháu có nguyện vọng ở với mẹ là Lý Thị T.
Tại biên bản xác minh ngày 23/01/2024, ông Lưu Minh H Công an xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang cung cấp: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1984 vẫn có hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang chưa chuyển khẩu đi đâu. Hiện nay anh Q không thường xuyên có mặt tại địa phương đi đâu làm gì địa phương không rõ vì không báo chính quyền địa phương.
Tại biên bản xác minh ngày 23/01/2024, bà Lý Thị T2 phó trưởng thôn thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang cung cấp: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1984, trú tại thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang hiện không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì địa phương không rõ vì không báo chính quyền địa phương. Còn đối với tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh Q thì địa phương thấy anh Q nghiện ngập, vợ chồng thường xuyên cãi vã nên chị T đã bỏ về nhà mẹ đẻ trong thời gian dài.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Lý Thị Q1 vắng mặt và có đơn xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Văn Q đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự: Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án Đại diện Viện kiểm sát phát đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị T: Cho chị Lý Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.
Về con chung: Giao cho chị Lý Thị T nuôi con chung là Nguyễn Thành D, sinh ngày 27/04/2009 đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết, vì đương sự không yêu cầu. Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn Q có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Nguyễn Văn Q thực hiện quyền này.
Về án phí: Chị Lý Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng là tiền tạm ứng án phí mà chị Lý Thị T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số 0005945 ngày 18 tháng 01 năm 2024.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lý Thị T khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Nguyễn Văn Q. Hiện nay anh Nguyễn Văn Q có hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn chị Lý Thị T vắng mặt đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn Q được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn đã ghi đúng, đầy đủ địa chỉ của bị đơn. Qua xác nhận của người thân của anh Nguyễn Văn Q cũng như chính quyền địa phương thì hiện anh Nguyễn Văn Q vẫn cư trú tại thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, hiện nay anh Nguyễn Văn Q địa chỉ cụ thể ở đâu gia đình, địa phương không rõ. Anh Nguyễn Văn Q cũng không cung cấp địa chỉ, nơi ở, nơi làm việc hiện nay cho chị Lý Thị T biết. Theo Công văn số 1155/QLXNC ngày 26/4/2024 của Phòng Q2 Công an tỉnh B về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh đối với anh Nguyễn Văn Q thì anh Nguyễn Văn Q không có thông tin cấp thông tin hộ chiếu và xuất nhập cảnh. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, khoản 3 Điều 39, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự được xem là anh Nguyễn Văn Q cố tình giấu giếm địa chỉ. Căn cứ vào Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Lý Thị T và anh Nguyễn Văn Q theo thủ tục chung.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị T và anh Nguyễn Văn Q kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 21/10/2018. Do vậy đây là hôn nhân hợp pháp.
Theo trình bày của chị Lý Thị T vợ chồng chị chung sống tình cảm ban đầu hòa thuận hạnh phúc nhưng được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, anh Nguyễn Văn Q nghiện ngập không quan tâm đến gia đình. Chị và anh Nguyễn Văn Q đã ly thân từ năm 2020 đến nay không còn liên lạc gì với nhau nữa. Hơn nữa bà Ngô Thị L là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn Q cũng cho rằng anh vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh Nguyễn Văn Q nghiện ngập không quan tâm đến gia đình, anh Q có biết việc chị T khởi kiện ly hôn anh và anh có nói với bà là đồng ý ly hôn với chị Lý Thị T. Xét thấy qua lời trình bày của các đương sự và thân nhân của các đương sự chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Lý Thị T và anh Nguyễn Văn Q mâu thuẫn là có thật, việc vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng đã ly thân trong thời gian dài cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lý Thị T, cho chị Lý Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.
[2.2] Về con chung: Chị Lý Thị T và anh Nguyễn Văn Q có 01 con chung là Nguyễn Thành D, sinh ngày 27/04/2009. Khi ly hôn chị Lý Thị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy hiện chị Lý Thị T đang có mặt tại địa phương, có công việc, thu nhập ổn định. Hiện nay anh Nguyễn Văn Q không có mặt tại địa phương, không thể trực tiếp chăm sóc con chung. Hơn nữa cháu Nguyễn Thành D đang có nguyện vọng ở với mẹ là Lý Thị T. Do vậy cần giao con chung là Nguyễn Thành D, sinh ngày 27/04/2009 cho chị Lý Thị T nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do chị Lý Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Lý Thị T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Lý Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng là tiền tạm ứng án phí mà chị Lý Thị T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số 0005945 ngày 18 tháng 01 năm 2024.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị T: Cho chị Lý Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.
- Về con chung: Giao cho chị Lý Thị T nuôi con chung là Nguyễn Thành D, sinh ngày 27/04/2009 đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết, vì đương sự không yêu cầu. Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn Q có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Nguyễn Văn Q thực hiện quyền này.
- Về án phí: Chị Lý Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng là tiền tạm ứng án phí mà chị Lý Thị T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số 0005945 ngày 18 tháng 01 năm 2024.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Án xử công khai sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phan Văn Thể |
Bản án số 71/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 71/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Thị T và Nguyễn Văn Q Ly hôn, con chung
