|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 71/2024/DSST Ngày 29 - 5 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC-TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tuấn Đức;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Đoàn;
Ông Nguyễn Minh Chí;
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 02 năm 2024; về việc tranh chấp vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST- DS ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh V, sinh năm: 1982;
Địa chỉ: Số C ấp C, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Ngô Công B, sinh năm: 1977; địa chỉ: Khu phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 13 tháng 7 năm 2023).
Bị đơn:
- Ông Nguyễn Sĩ T, sinh năm: 1961;
- Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm: 1970;
Cùng địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
(Ông B, ông T, bà Y đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án như sau: Ngày 08 tháng 10 năm 2020, giữa ông V với ông T, bà Y có ký hợp đồng vay tiền, ông V cho ông T và bà Y vay số tiền gốc 1.200.000.000 đồng, thời hạn vay 3 năm, kể từ ngày 08 tháng 10 năm 2020 đến ngày 08 tháng 10 năm 2023, lãi suất 1%/tháng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông T, bà Y đã trả cho ông V được 17 tháng lãi tính từ 08 tháng 10 năm 2020 đến ngày 08 tháng 3 năm 2022, cụ thể 17 tháng X 1%/tháng X 1.200.000.000 đồng = 204.000.000 đồng. Sau đó, ông T và bà Y không tiếp tục trả lãi cho ông V, cho dù ông V đã yêu cầu nhiều lần nhưng ông T, bà Y không thực hiện.
Do hết ngày 08 tháng 10 năm 2023, ông T, bà Y không trả gốc và lãi phần còn lại nên ông T và bà Y là người vi phạm nghĩa vụ. Do vậy, ông Nguyễn Thanh V khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Sĩ T và bà Nguyễn Thị Y phải trả cho ông Nguyễn Thanh V số tiền gốc 1.200.000.000 đồng và số tiền lãi phát sinh trong hạn là 19 tháng từ ngày 08/3/2022 đến ngày 08/10/2023 với lãi suất thỏa thuận 1%/tháng trên số tiền gốc 1.200.000.000 đồng X 1%/tháng X 19 tháng = 228.000.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi tạm tính đến ngày 08/10/2023 là 1.200.000.000 đồng + 228.000.000 đồng = 1.428.000.000 đồng. Đồng thời, ông V còn yêu cầu ông T, bà Y trả lãi trên nợ gốc quá hạn với lãi suất các bên thỏa thuận 1%/tháng X 150% = 1,5%/tháng, tức yêu cầu tính lãi quá hạn là 1,5%/tháng tính từ ngày 09/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh V đối với bị đơn ông Nguyễn Sỹ T1 và bà Nguyễn Thị Y nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, được pháp luật quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thời hiệu: Đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn ông Nguyễn Thanh V với bị đơn ông Nguyễn Sỹ T1 và bà Nguyễn Thị Y vẫn còn thời hiệu được quy định tại Điều 184, 185 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 429 của Bộ luật Dân sự.
[1.3] Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Ngô Công B có đề đơn nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Sỹ T1 và bà Nguyễn Thị Y đã được Tòa án thông báo hợp lệ hai lần đến tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt ông Ngô Công B, ông Nguyễn Sỹ T1 và bà Nguyễn Thị Y là đúng pháp luật
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét thấy, Ngày 08 tháng 10 năm 2020, giữa ông V với ông T1, bà Y có ký hợp đồng vay tiền, ông V cho ông T1 và bà Y vay số tiền gốc 1.200.000.000 đồng, thời hạn vay 3 năm, kể từ ngày 08 tháng 10 năm 2020 đến ngày 08 tháng 10 năm 2023, lãi suất 1%/tháng. Ông T1, bà Y đã trả lãi trong hạn cho ông V được số tiền 204.000.000 đồng của 17 tháng, từ ngày 08 tháng 10 năm 2020 đến ngày 08 tháng 3 năm 2022, cụ thể 17 tháng X 1%/tháng X 1.200.000.000 đồng = 204.000.000 đồng.
Sau ngày 08 tháng 3 năm 2022, ông T1 và bà Y không tiếp tục trả lãi trong hạn đến ngày 08 tháng 10 năm 2023 cho ông V nữa. Mặt dù, ông V đã yêu cầu nhiều lần nhưng ông T1, bà Y không thực hiện.
[2.2] Theo hợp đồng vay lãi suất hai bên có thỏa thuận việc trả lãi 1%/tháng là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Thời hạn vay 36 tháng đến hết ngày 08 tháng 10 năm 2023, ông T1, bà Y không thực hiện trả nợ theo thỏa thuận nên ông T1, bà Y là người vi phạm nghĩa vụ. Do vậy, ông Nguyễn Thanh V khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Sĩ T và bà Nguyễn Thị Y phải trả cho ông Nguyễn Thanh V số tiền gốc 1.200.000.000 đồng và số tiền lãi trên nợ gốc trong hạn, lãi trên nợ gốc quá hạn theo mức lãi suất quy định của pháp luật là có căn cứ, cụ thể tính như sau:
- Lãi trên nợ gốc trong hạn: Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả tính từ ngày 09/3/2022 đến ngày 08/10/2023 là 19 tháng, số tiền gốc 1.200.000.000 đồng X 1%/tháng X 19 tháng = 228.000.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi tạm tính đến ngày 08/10/2023 là 1.428.000.000 đồng.
- Lãi trên nợ gốc quá hạn:
Các bên thỏa thuận vay có lãi và có thời hạn là 36 tháng, khi đến hạn trả nợ ngày 08 tháng 10 năm 2023 nhưng ông T, bà Y không trả tiền gốc nên ông T, bà Y thuộc trường hợp chậm trả. Ông T, bà Y phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 và điểm b khoản 5 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015, lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay tương ứng với thời gian chậm trả. Từ ngày 09/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 29 tháng 5 năm 2024 là 7 tháng 20 ngày, cụ thể: Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả: 1.200.000.000 đồng X 1.5%/tháng (1% X 150%) X 7 tháng = 126.000.000 đồng; 1.200.000.000 đồng X 1.5%/tháng X 20 ngày : 30 ngày = 12.000.000 đồng. Tổng lãi trên nợ gốc quá hạn là 126.000.000 đồng + 12.000.000 đồng = 138.000.000 đồng.
[2.3] Tổng tiền gốc và lãi mà ông Nguyễn Sĩ T và bà Nguyễn Thị Y phải trả cho ông Nguyễn Thanh V số tiền 1.200.000.000 đồng + 228.000.000 đồng + 138.000.000 đồng = 1.566.000.000 đồng.
[2.4] Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thực hiện phương thức tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Nguyễn Sĩ T và bà Nguyễn Thị Y hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh V. Tòa án cũng đã thông báo hợp lệ cho ông Nguyễn Sĩ T và bà Nguyễn Thị Y tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
[2.5] Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, việc ông Nguyễn Thanh V khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Sĩ T và bà Nguyễn Thị Y phải trả cho ông Nguyễn Thanh V tiền gốc và lãi 1.566.000.000 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh V.
[2.6] Về án phí: Ông Nguyễn Sĩ T và bà Nguyễn Thị Y liên đới phải chịu 1.566.000.000 đồng là 36.000.000 đồng + 22.980.000 đồng = 58.980.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 357, 463, 466, 468 và 470 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh V đối với ông Nguyễn Sĩ T và bà Nguyễn Thị Y.
- Buộc ông Nguyễn Sĩ T và bà Nguyễn Thị Y liên đới phải trả cho ông Nguyễn Thanh V số tiền 1.566.000.000 (một tỷ năm trăm sáu mươi sáu triệu) đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí: Ông Nguyễn Sĩ T và bà Nguyễn Thị Y liên đới phải chịu 58.980.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, sung quỹ Nhà nước.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh V số tiền 27.420.000 đồng tạm ứng án phí mà ông V đã nộp theo biên lai thu số 0011052 ngày 02 tháng 02 năm 2024, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
- Quyền kháng cáo bản án: Án xử sơ thẩm báo cho các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tuấn Đức |
Bản án số 71/2024/DSST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 71/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vay tài sản giữa Nguyễn Thanh V với Nguyễn Sĩ T
