|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU Bản án số: 71/2023/HS-ST Ngày: 28-12-2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế
Thẩm phán: Ông Trịnh Xuân Miễn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Quang Lợi
Ông Phạm Văn Đông
Bà Nguyễn Thu Anh
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Kim Yến, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phan Đình Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 83/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Ngô Thị Thu Th (tên gọi khác là Bé Th), sinh ngày 19/3/1994 tại Cà Mau; nơi cư trú: Khóm M, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Minh V (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; chồng tên Huỳnh Việt Nh và có 03 con; tiền án: Có 02 tiền án (1. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 151/2021/HS-ST ngày 01/11/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 09 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, được hoãn thi hành án phạt tù do nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi theo Quyết định hoãn chấp hành án phạt tù số 14/2021/THAHS-QĐ ngày 15/12/2021; 2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 192/2021/HS-ST ngày 22/12/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù của Bản án số 151/2021/HS-ST ngày 01/11/2021, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 08 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2021 đến ngày 14/7/2021. Tuy nhiên, bị cáo được hoãn chấp hành án phạt tù do nuôi con dưới 36 tháng tuổi theo Quyết định hoãn chấp hành án phạt tù số 03/2022/THAHS-QĐ ngày 07/02/2022 và số 04/2023/THAHS-QĐ ngày 07/02/2023 của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau); tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 29/7/2023; bị tạm giam từ ngày 07/8/2023 đến nay. Bị cáo có mặt.
- Nguyễn Huy H, sinh ngày 21/01/1991 tại Cà Mau; nơi cư trú: Khóm 0, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau; chỗ ở khác: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Chạy xe ôm; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mười M (đã chết) và bà Bùi Bích Th1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Có 01 tiền án đã được xóa (Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 92/2009/HSPT ngày 19/6/2009, bị Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, được miễn chấp hành hình phạt tù ngày 11/9/2009, đã thực hiện xong nghĩa vụ dân sự); bị bắt tạm giữ từ ngày 29/7/2023; bị tạm giam từ ngày 07/8/2023 đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Th: Luật sư Nguyễn Tố Như của Văn phòng Luật sư Mũi Cà Mau thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau. Luật sư có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo H: Luật sư Trần Đức Tiến của Văn phòng Luật sư Trần Đức Tiến thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau. Luật sư có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 00 giờ 10 phút ngày 29/7/2023, lực lượng Cảnh sát điều tra (CSĐT) tội phạm về ma túy Công an tỉnh Cà Mau tiến hành kiểm tra và bắt quả tang Nguyễn Huy H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại khu vực đường Phạm Ngọc Thạch thuộc địa bàn khóm 8, phường 5, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Khi lực lượng Công an kiểm tra, H đang điều khiển xe máy hiệu Vision, biển kiểm soát 69F1-790.16 chở Nguyễn Như Y (bạn gái H) ngồi phía sau. Qua kiểm tra, phát hiện tại vị trí để chân (người ngồi phía trước) trên xe máy 69F1-790.16 có một bọc nilon màu trắng, kiểm tra trong bọc nilon này có một bọc nilon màu trắng đục, trên bọc có chữ “Nhà thuốc Long Châu”, bên trong có một hộp giấy, trên hộp có chữ “Cozy”; tiếp tục kiểm tra hộp giấy này, phát hiện bên trong có 12 (mười hai) bọc nilon dạng trong suốt, bên trong mỗi bọc đều có chứa chất bột màu trắng, dạng rắn (nghi là ma túy) nên lực lượng làm nhiệm vụ tiến hành niêm phong, thu giữ (ký hiệu M21/2023) và mời H, Y về trụ sở làm việc. Qua làm việc, H khai nhận số tang vật (nghi là ma túy) trên là của Ngô Thị Thu Th nhà ở hẻm Xóm Kiếp, phường 8, thành phố Cà Mau.
Từ lời khai của H cùng với tài liệu xác minh, thu thập, CQĐT tiến hành bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Ngô Thị Thu Th. Qua kiểm tra, phát hiện trên người của Th có cất giấu một gói nilon màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy) nên tiến hành niêm phong, thu giữ (ký hiệu M22/2023) để xác minh làm rõ. Qua kết quả test nhanh thể hiện H và Th đều dương tính (có sử dụng chất ma túy).
* Kết luận giám định số 374/KL-KTHS ngày 31/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự (KTHS) - Công an tỉnh Cà Mau, kết luận: Chất bột màu trắng đục dạng rắn bên trong 12 bọc nilon được niêm phong (ký hiệu M21/2023) thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Huy H đều là ma túy, loại Heroin. Tổng khối lượng là 350,64 gam.
* Kết luận giám định số 376/KL-KTHS ngày 04/8/2023 của Phòng KTHS - Công an tỉnh Cà Mau, kết luận: Chất bột màu trắng đục dạng rắn bên trong bọc nilon được niêm phong (ký hiệu M22/2023) thu giữ khi bắt khẩn cấp Ngô Thị Thu Th là ma túy, loại Heroin. Tổng khối lượng là 0,4358 gam.
* Kết quả điều tra Ngô Thị Thu Th và Nguyễn Huy H khai nhận:
Vào đầu tháng 6 năm 2023, Th có gặp người phụ nữ tên Th2, khoảng 40 tuổi (Th không rõ họ, địa chỉ ở đâu), người này nói có quen biết với bà Nguyễn Thị L (mẹ của Th, đang chấp hành án tại Trại giam Cái Tàu). Qua thăm hỏi, bà Th2 giới thiệu với Th có người phụ nữ tên “Dì Hai” ở Thành phố Hồ Chí Minh muốn giúp đỡ bằng cách đưa ma túy cho Th bán kiếm tiền, bà Th2 có đưa số điện thoại của “Dì Hai” cho Th để khi nào cần thì liên lạc. Sau đó, Th có liên lạc nói chuyện với người phụ nữ tên “Dì Hai” vài lần, Th chỉ nghe giọng nói giống người miền Trung (không biết mặt, thông tin, địa chỉ ở đâu), người này thường xuyên đổi số điện thoại để điện cho Th. Hai bên thỏa thuận “Dì Hai” sẽ giao ma túy cho Th bán, sau khi bán hết sẽ trích một phần tiền lời cho Th tiêu xài, Th đồng ý.
Đến ngày 25/7/2023, Th dùng số điện thoại 0842.909.xxx điện cho H (số 0915.408897) là người quen biết của Th ngoài xã hội, Th thuê H đến Thành phố Hồ Chí Minh để nhận ma túy của “Dì Hai” rồi đem về Cà Mau giao lại cho Th, Th trả tiền công từ 5.000.000 đồng (đ) đến 6.000.000đ, H đồng ý và xin tạm ứng số tiền 3.000.000đ để làm chi phí cho chuyến đi nên Th lấy 3.000.000đ cuộn tròn, buộc dây thun lại đem để trên mái tol nhà của người hàng xóm (gần nhà Th) rồi lấy cục bê tông đặt lên. Sau đó, Th điện thoại cho H chỉ điểm để H đến lấy tiền rồi H đi về nhà ở ấp B, xã T, huyện Đ. Đến ngày 27/7/2023, Th tiếp tục điện cho H kêu H đi Thành phố Hồ Chí Minh để nhận ma túy thì H đồng ý. Khi đi, H rủ thêm bạn gái tên Nguyễn Như Y và lấy xe máy hiệu Vision biển kiểm soát 69F1-790.16 của Y nói là đi Thành phố Hồ Chí Minh chơi thì được Y đồng ý. Đến khoảng 01 giờ ngày 28/7/2023, H và Y đến quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh thuê khách sạn (không nhớ tên, địa chỉ khách sạn nào) nghỉ ngơi rồi điện thoại thông báo cho Th biết H đã đến Thành phố Hồ Chí Minh, Th nói là đã hẹn người giao ma túy lúc 05 giờ sáng và Th nhắn số điện thoại của “Dì Hai” (số 0794.323842) cho H để liên lạc nhận ma túy. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày, H điện vào số điện thoại 0794.323.xxx thì có người phụ nữ bắt máy và hẹn H vào con hẻm gần trường Lê Thị Hồng Gấm, trên đường Phạm Văn Chiêu, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh để gặp và giao ma túy. Sau đó, H một mình điều khiển xe máy đến địa điểm trên gặp người phụ nữ đeo khẩu trang (H không biết tên, đặc điểm nhận dạng) đứng đợi sẵn và giao cho H bọc ma túy được đựng trong bọc nilon màu trắng, trên bọc có chữ “Nhà thuốc Long Châu”, H không biết loại ma túy gì, số lượng bao nhiêu rồi đem về phòng nghỉ của khách sạn cất giấu. Đến khoảng 09 giờ ngày 28/7/2023, H và Y trả phòng và lấy đồ ra xe để đi về, H để bọc nilon chứa ma túy dưới chỗ gác chân phía trước xe máy Vision 69F1-790.16 rồi chở Y về Cà Mau. Trên đường đi, H có mua nhiều đồ để chất lên bọc ma túy. Khi H di chuyển ra khỏi địa phận Thành phố Hồ Chí Minh, đến đường cao tốc (H không xác định thuộc tỉnh nào) H đi sai làn đường nên bị Cảnh sát giao thông xử phạt số tiền 2.500.000đ. H điện thoại báo cho Th biết, Th chuyển vào tài khoản H mở tại ngân hàng Vietcombank số tiền 3.000.000đ để cho H đóng phạt rồi tiếp tục điều khiển xe chở Y về Cà Mau. Trước khi về đến Cà Mau, H có điện nhờ Th chuẩn bị cho H một ít ma túy để sử dụng, nên Th liên hệ với người phụ nữ tên Th2 mà Th quen biết ở trên để mua ma túy với số tiền 100.000đ rồi cất giấu trong người để cho H sử dụng. Đồng thời, Th cũng chuẩn bị sẵn số tiền 2.500.000đ trong túi áo để trả công vận chuyển ma túy cho H. Đến 00 giờ ngày 29/7/2023, khi H chở Y về đến khu vực phường 5, thành phố Cà Mau chưa kịp giao cho Th thì bị bắt quả tang.
Ngoài lần bị bắt quả tang ra, thời gian đầu tháng 6/2023, Th còn thuê H đến Thành phố Hồ Chí Minh nhận 03 bọc ma túy nhỏ (H không biết số lượng bao nhiêu) của “Dì Hai” mang về cho Th, lần này H được Th trả công số tiền 6.000.000đ. Cũng tại lần này, sau khi H mang ma túy về giao cho Th, Th có thuê H đem ma túy giao cho Vương Thành Được ở thị trấn Thới Bình, huyện Thới Bình 05 lần, Được trả tiền mặt cho H 04 lần nhưng không nhớ cụ thể số tiền bao nhiêu nhưng ít nhất là 900.000đ, nhiều nhất là 5.000.000đ, nhận tiền xong H mang về đưa lại cho Th và được Th trả tiền công mỗi lần đi giao là 700.000đ. Th khai nhận, sau khi H giao ma túy cho Được, H có nhận tiền đem về đưa cho Th 03 lần, trong đó có một lần 900.000đ, một lần 2.000.000đ và một lần 5.000.000đ, lần thứ tư Th không nhớ H đưa bao nhiêu. Ngoài ra, vào 25/7/2023, Được có chuyển vào tài khoản của Th mở tại ngân hàng Vietcombank số tiền 4.400.000đ để trả tiền ma túy còn nợ Th.
- Tại Cáo trạng số 80/CT-VKS-P1 ngày 23 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đã truy tố Th và H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, truy tố Th thêm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu:
+ Về trách nhiệm hình sự:
Đối với bị cáo Th: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bị cáo 20 năm tù; Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, phạt bị cáo từ 02 năm đến 03 năm tù; Đề nghị áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 22 năm đến 23 năm tù; Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 08 năm 03 tháng tù với Bản án hình sự sơ thẩm số 192/2021/HS-ST ngày 22/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 30 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/7/2023, được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2021 đến ngày 14/7/2021.
Đối với bị cáo H: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bị cáo 18 năm tù.
+ Về xử lý vật chứng: Các vật chứng là vật cấm và vật không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy, gồm: Mẫu vật hoàn lại sau giám định, 02 bọc nilon, 01 hộp giấy; Các vật chứng liên quan đến giao dịch có giá trị cần tịch thu sung quỹ Nhà nước, gồm: 03 điện thoại di động, 12.300.000đ tiền thu lợi bất chính của bị cáo Th và 12.500.000đ tiền thu lợi bất chính của bị cáo H. Tiếp tục giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau quản lý số tiền thu giữ của bị cáo Th để bảo đảm cho việc thi hành án.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo Th trình bày: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn có 03 con nhỏ, nên đề nghị áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, đề nghị trả lại cho bị cáo số tiền 23.423.000đ đã thu giữ để trang trải cuộc sống gia đình.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo H trình bày: Thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Lời nói sau cùng của các bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Vào ngày 27/7/2023, Ngô Thị Thu Th điện thoại thuê Nguyễn Huy H đi đến Thành phố Hồ Chí Minh gặp người phụ nữ tên gọi “Dì Hai” (không xác định lai lịch, địa chỉ) do Th liên hệ trước đó để nhận ma túy đem về Cà Mau giao lại cho Th để Th bán lại cho người khác. Th trả công cho H 6.000.000đ và H đã nhận trước 3.000.000đ. Mặc dù, biết rõ Th thuê đi Thành phố Hồ Chí Minh lấy ma túy về Cà Mau để giao cho Th bán lại nhưng H vẫn đồng ý thực hiện. Đến 00 giờ 10 phút ngày 29/7/2023, khi H đang điều khiển xe máy hiệu Vision, biển kiểm soát 69F1-790.16 chở bạn gái Nguyễn Như Y ngồi phía sau thuộc khu vực đường Phạm Ngọc Thạch, khóm 8, phường 5, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Cà Mau tiến hành kiểm tra và bắt quả tang, thu giữ 350,64 gam Heroin. Trong khi thi hành Lệnh giữ người khẩn cấp Ngô Thị Thu Th, CQĐT phát hiện trên người Th có cất giấu 0,4358 gam Heroin, Th khai tàng trữ để cho H sử dụng sau khi đi vận chuyển ma túy về. Ngoài lần bị bắt quả tang, Th và H còn khai nhận vào đầu tháng 6 năm 2023, Th có thuê H đến Thành phố Hồ Chí Minh gặp “Dì Hai” để nhận 03 bịch ma túy nhỏ, loại Heroin đem về cho Th, lần này Th trả công cho H được số tiền 6.000.000đ. Ngoài ra, cả hai còn khai nhận tại lần H nhận ma túy về giao lại cho Th vào đầu tháng 6/2023, Th có thuê H mang ma túy đi giao cho đối tượng Vương Thành Được ở thị trấn Thới Bình, huyện Thới Bình rồi mang tiền về cho Th 05 lần, Th thu lợi số tiền 12.300.000đ, H được Th trả công 700.000đ trên mỗi lần đi giao. Với những tình tiết như trên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố các bị cáo Th và H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251, truy tố bị cáo Th thêm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm chính sách quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, hủy hoại sức khỏe và sức lao động của con người, là mầm mống của nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo đều nghiện ma túy, mua bán ma túy với khối lượng lớn. Vì vậy, việc xử lý nghiêm khắc đối với các bị cáo là rất cần thiết. Trước khi phạm tội, các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ, phân công vai trò nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo Th giữ vai trò chính, trực tiếp tìm nguồn mua ma túy, bị cáo H giúp sức tích cực trong việc đi nhận ma túy và giao ma túy theo chỉ đạo của bị cáo Th. Các bị cáo mua bán ma túy là trái pháp luật. Phạm tội thì phải bị xử lý và chịu hình phạt theo quy định.
[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng sau đây cho các bị cáo:
[4.1] Tình tiết giảm nhẹ:
[4.1.1] Đối với bị cáo Th: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tự thú đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Có kiến thức pháp luật hạn chế do có trình độ học vấn thấp.
[4.1.2] Đối với bị cáo H: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tự thú.
[4.2] Tình tiết tăng nặng: Ngoài lần phạm tội bị bắt quả tang, theo chỉ đạo của Th, H còn đi Thành phố Hồ Chí Minh nhận ma túy về giao lại cho Th và có 05 lần đi giao ma túy cho Vương Thành Đ tại huyện Thới Bình. Do đó, các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Th đã tái phạm nay lại phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm nguy hiểm.
[5] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của các bị cáo, xét đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là có cơ sở. Hội đồng xét xử quyết định cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài đủ để cải tạo thành người tốt cũng như phòng ngừa chung. Bị cáo Th phạm nhiều tội và phạm tội trong thời gian được hoãn chấp hành án nên cần tổng hợp hình phạt của nhiều tội và của nhiều bản án để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung theo quy định.
[6] Với các phân tích như trên, ý kiến của các Luật sư bào chữa cho các bị cáo được chấp nhận một phần.
[7] Vật chứng trong vụ án được xử lý như sau:
Các vật chứng là vật cấm và vật không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy, gồm: Mẫu vật hoàn lại sau giám định, 02 bọc nilon màu trắng, 01 hộp giấy.
Các vật chứng liên quan đến giao dịch có giá trị cần tịch thu sung quỹ Nhà nước, gồm: 03 điện thoại di động, 12.300.000 đồng tiền thu lợi bất chính của bị cáo Th và 12.500.000 đồng tiền thu lợi bất chính của bị cáo H. Tiếp tục giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau quản lý số tiền 26.423.000đ thu giữ của bị cáo Th để bảo đảm cho việc thi hành án.
Đối với chiếc xe mô tô hiệu Vision, màu đen, biển kiểm soát 69F1-790.16 của Nguyễn Như Y. Quá trình điều tra đã trả lại cho Y do Y không đồng phạm với H trong vụ án là phù hợp.
[8] Do bị kết án nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Đối với Nguyễn Như Y có đi với bị cáo H từ Cà Mau đến Thành phố Hồ Chí Minh để H nhận ma túy mang về Cà Mau sau đó bị bắt quả tang. Qua điều tra xác định khi đi cùng với H, Y không biết mục đích H đi nhận ma túy về giao cho lại người khác, Y không liên quan đến hành vi phạm tội của H nên CQĐT không xử lý là phù hợp.
[10] Đối với các đối tượng tên Th2 ở Cà Mau, người phụ nữ tên “Dì Hai” ở Thành phố Hồ Chí Minh, Th khai là người bán ma túy cho Th, do không có thông tin, địa chỉ cụ thể, không làm việc được; kết quả xác minh số điện thoại của “Dì Hai” (số 0794323842) do người tên Võ Khánh Linh, sinh năm 1997; địa chỉ: xã Trung Thành Tây, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, đứng tên đăng ký chủ thuê bao nhưng qua xác minh xác định Linh không dùng giấy tờ tùy thân của mình để đăng ký số điện thoại trên, không quen biết với Th và H, không liên quan vụ án nên CQĐT tách ra tiếp tục xác minh, có căn cứ sẽ xử lý sau.
[11] Đối với Vương Thành Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên đề nghị CQĐT ra quyết định xử phạt hành chính.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
1.1. Đối với bị cáo Ngô Thị Thu Th:
- Căn cứ vào điểm b khoản 4 Điều 251, điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Ngô Thị Thu Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bị cáo 20 (hai mươi) năm tù.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Ngô Thị Thu Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, phạt bị cáo 01 (một) năm tù.
- Căn cứ khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 21 (hai mươi mốt) năm tù.
- Căn cứ khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 08 năm 03 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 192/2021/HS-ST ngày 22/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 29 (hai mươi chín) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29 tháng 7 năm 2023, được khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06 tháng 4 năm 2021 đến ngày 14 tháng 7 năm 2021 (theo Bản án hình sự sơ thẩm số 192/2021/HS-ST ngày 22/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau).
1.2. Đối với bị cáo Nguyễn Huy H: Căn cứ vào điểm b khoản 4 Điều 251; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bị cáo 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29 tháng 7 năm 2023.
2. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
2.1. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 (một) phong bì hoàn mẫu số 374/KL-KTHS ngày 31/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Cà Mau được niêm phong kín, có chữ ký, chữ viết họ tên Dương Hải Đăng, Tăng H Đệ và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự đóng giáp lai niêm phong; 01 (một) phong bì hoàn mẫu số 376/KL-KTHS ngày 04/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Cà Mau được niêm phong kín, có chữ ký, chữ viết họ tên Trần Anh Kiệt, Tăng H Đệ và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự đóng giáp lai niêm phong; 01 (một) bọc nilon màu trắng; 01 (một) bọc nilon màu trắng, trên bọc có chữ “NHÀ THUỐC LONG CHÂU”; 01 (một) hộp giấy, trên hộp có chữ “Cozy”. Các vật chứng hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau quản lý (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/11/2023).
2.2. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu bạc (trắng bạc), có gắn 01 thẻ sim, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA, loại bàn phím, có gắn 02 thẻ sim, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu xanh, loại bàn phím, có gắn 02 thẻ sim, đã qua sử dụng; 12.300.000 (mười hai triệu ba trăm nghìn) đồng tiền thu lợi bất chính của bị cáo Th (bị cáo chưa nộp) và 12.500.000 (mười hai triệu năm trăm nghìn) đồng tiền thu lợi bất chính của bị cáo H (bị cáo chưa nộp). Tiếp tục giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau quản lý số tiền 26.423.000 (hai mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi ba nghìn) đồng thu giữ của bị cáo Th để bảo đảm cho việc thi hành án. Điện thoại và tiền hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau quản lý (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/11/2023 và Biên lai thu tiền số 0000006 ngày 30/11/2023).
3. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Th và H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng/bị cáo.
4. Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trọng Quế |
Bản án số 71/2023/HS-ST ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 71/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạt bị cáo Th 02 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và 01 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; phạt bị cáo H 18 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
