|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST
Ngày 26 - 11 - 2024
Về việc “Không công nhận
quan hệ vợ chồng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thu Trang
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Ngân
2. Bà Vũ Thị Hòa
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 235/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024 về việc kiện “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lý Văn N - Sinh năm 1968
Nơi ĐKHKTT: Tổ 10, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
Nơi ở: Tổ 03, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Bà Đặng Thị T - Sinh năm 1976
Nơi ĐKHKTT: Tổ 10, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
Nơi ở: Tổ 03, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn ông Lý Văn N trình bày:
Ông Lý Văn N và bà Đặng Thị T về chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 02/1999 đến nay, ông bà có làm thủ tục cưới hỏi theo phong tục của địa phương. Quá trình chung sống do không hiểu biết nên ông bà không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi làm đám cưới về chung sống với nhau giữa ông bà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do ông bà không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên ông bà thường xuyên xảy ra việc tranh cãi, bà T thường xuyên chơi bời, nợ nần, phá tán tài sản gia đình, không tu chí làm ăn để xây dựng kinh tế và nuôi dạy các con, các con của ông bà từ nhỏ đến khi các cháu lớn đều do một mình ông Lý Văn N chăm sóc, nuôi dưỡng. Thời gian gần đây mâu thuẫn giữa ông bà ngày càng trầm trọng, thường xuyên cãi chửi nhau, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Ông N và bà T đã sống ly thân nhau, ông bà không còn quan tâm đến nhau cả về tình cảm và kinh tế. Nay ông Lý Văn N đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai giải quyết không công nhận ông Lý Văn N và bà Đặng Thị T là vợ chồng.
Về con chung: Quá trình chung sống ông Lý Văn N và bà Đặng Thị T có 02 con chung là cháu Lý Tú T1 - Sinh ngày 19/01/2000 và cháu Lý Thị N1 - Sinh ngày 11/3/2002. Hiện nay các cháu đều đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên ông Lý Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản: Ông Lý Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt bà Đặng Thị T trình bày:
Bà Đặng Thị T và ông Lý Văn N về chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 02/1999 đến nay, ông bà có làm thủ tục cưới hỏi theo phong tục của địa phương. Thời gian chung sống do không hiểu biết nên ông bà không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi làm đám cưới về chung sống với nhau giữa ông bà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do ông bà không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra việc tranh cãi, ông N thường xuyên chửi bới, đánh đập, phá công việc làm ăn của bà T. Bà T đã nhiều lần bỏ qua cho ông N nhưng ông N vẫn không chịu thay đổi mà còn tiếp tục thường xuyên chửi bới bà T. Mâu thuẫn giữa ông bà ngày càng trầm trọng, hai bên thường xuyên cãi chửi nhau không thể chung sống được nữa. Ông bà đã sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai cả về tình cảm và kinh tế. Nay bà Đặng Thị T nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông Lý Văn N là đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai giải quyết không công nhận bà Đặng Thị T và ông Lý Văn N là vợ chồng.
Về con chung: Quá trình chung sống bà Đặng Thị T và ông Lý Văn N có 02 con chung là cháu Lý Tú T1 - Sinh ngày 19/01/2000 và cháu Lý Thị N1 - Sinh ngày 11/3/2002. Hiện nay các cháu đều đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên bà Đặng Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản: Bà Đặng Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ; Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử không công nhận quan hệ giữa ông Lý Văn N và bà Đặng Thị T là quan hệ vợ chồng; T2 án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ông Lý Văn N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ giữa ông Lý Văn N và bà Đặng Thị T là quan hệ vợ chồng, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về “Không công nhận quan hệ vợ chồng”. Bị đơn bà Đặng Thị T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ A, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai và nơi ở tại tổ C, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đây là vụ án dân sự thuộc trường hợp không được hòa giải theo quy định tại Điều 206 Bộ Luật tố tụng Dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng của Toà án đúng quy định nhưng bà Đặng Thị T không đến Toà án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tại phiên tòa nguyên đơn ông Lý Văn N và bị đơn bà Đặng Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện:
[2.1] Về hôn nhân: Ông Lý Văn N và Đặng Thị T về chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 02/1999, có làm thủ tục cưới hỏi theo phong tục của địa phương. Sau khi làm đám cưới ông bà không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định. Đến nay giữa ông bà xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên ông Lý Văn N đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ giữa ông Lý Văn N và bà Đặng Thị T là quan hệ vợ chồng, bà Đặng Thị T nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông Lý Văn N. Tại các đơn xin xác nhận đề ngày 24/10/2024 của ông Lý Văn N thì Ủy ban nhân dân xã Đ, Ủy ban nhân dân phường C, Ủy ban nhân dân phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai đã xác nhận quá trình chung sống ông Lý Văn N và bà Đặng Thị T chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định. Như vậy Hội đồng xét xử xác định lời trình bày của ông Lý Văn N và bà Đặng Thị T là có căn cứ. Ông Lý Văn N và bà Đặng Thị T không đăng ký kết hôn mà sống chung như vợ chồng là trái pháp luật vì vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình cần tuyên bố không công nhận quan hệ giữa ông Lý Văn N và bà Đặng Thị T là quan hệ vợ chồng.
[2.2] Về con chung: Thời gian chung sống ông Lý Văn N và bà Đặng Thị T có 02 người con chung là cháu Lý Tú T1 - Sinh ngày 19/01/2000 và cháu Lý Thị N1 - Sinh ngày 11/3/2002. Hiện nay các cháu đều đã đủ 18 tuổi nên ông Lý Văn N và bà Đặng Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung: Ông Lý Văn N và bà Đặng Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Ông Lý Văn N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử không công nhận quan hệ giữa ông Lý Văn N và bà Đặng Thị T là quan hệ vợ chồng.
2. Về án phí: Ông Lý Văn N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận ông Lý Văn N đã nộp đủ tiền án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000887 ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thu Trang |
Bản án số 71/2024/HNGĐ-ST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 71/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận quan hệ vợ chồng
