|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST
Ngày 28 tháng 9 năm 2024.
“V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Phước Cường, ông Lê Thanh Hảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kim Thoa, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 250/2024/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 415/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 173/2024/QĐST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Thùy H, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ A, hẻm E, T, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang
Bị đơn: Ông Thái Chí T, sinh năm 1989; địa chỉ: hẻm B, T, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
Bà H có mặt, ông T vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đỗ Thị Thùy H trình bày: Bà H và ông T tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 107, ngày 21/8/2017. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2021, phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, gia đình hai bên có can thiệp nhưng không giải quyết được, vợ chồng không còn chung sống từ năm 2021 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống nên bà H yêu cầu ly hôn ông T. Về con chung, trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có 01 con chung tên Thái Chí Q, sinh ngày 09/9/2017. Bà H yêu cầu được nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Xác định thẩm quyền thụ lý quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý của các đương sự, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án và lập hồ sơ đúng theo quy định tại các Điều 195, 196, 198 và Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn ông T mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lí do, thuộc trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quan tâm chăm sóc, giúp đở, cùng nhau chia sẻ các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, cả hai xảy ra mâu thuẫn, hiện không còn sống chung, tình cảm không còn, suốt thời gian xảy ra mâu thuẫn, cả hai cũng không thể chủ động hàn gắn. Quá trình giải quyết vụ án ông T mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà H yêu cầu được ly hôn với ông T là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Có 01 con chung Thái Trí Q1, sinh ngày 09/9/2017, hiện đang sống cùng bà H, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, Q1 có nguyện vọng sống mẹ (bà H). Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống con chung việc tiếp tục giao con chung cho bà H nuôi dạy là phù hợp quy định pháp luật, nguyện vọng con. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H trong việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Từ phân tích trên, Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Đỗ Thị Thùy H được ly hôn với ông Thái Chí T; bà H được tiếp tục nuôi dạy con chung, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Bị đơn cư trú trên địa bàn thành phố C. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
[2] Bị đơn, ông T vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân, bà Đỗ Thị Thùy H và ông Thái Chí T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 107, ngày 21/8/2017 nên được xem là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng;
Theo quy định tại Điều 19, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau....”. Tuy nhiên, bà H trình bày do mâu thuẫn, nên khởi kiện ly hôn, ông T không có thiện chí hàn gắn, níu kéo lại tình cảm vợ chồng mà bỏ mặc cả hai mạnh ai nấy sống. Điều này chứng tỏ vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cũng như không thể chia sẻ công việc trong gia đình với nhau được nữa, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi 01 con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Cháu Q1 cũng có nguyện vọng được sống với cha, nếu cha mẹ ly hôn. Xét thấy đảm bảo cuộc sống ổn định của cháu và điều kiện thuận lợi cho cháu phát triển nên việc giao con chung Thái Chí Q cho bà H nuôi dạy là phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình 2014.
[5] Xét về về cấp dưỡng:
Tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Đây là nghĩa vụ của cha mẹ. Do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con...;
Đối chiếu với quy định nêu trên, lẽ ra người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi dạy con chung. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, bà H vẫn không yêu cầu cấp dưỡng và cho rằng có đủ khả năng nuôi dạy con chung. Xét thấy, việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện và có đầy đủ khả năng đảm bảo cuộc sống của con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất ông T không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung. Nếu có tranh chấp cấp dưỡng thì giải quyết trong vụ án khác.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét.
[7] Về án phí: Tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Toà án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, bà Đỗ Thị Thùy H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003578 ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, bà H đã nộp đủ án phí. Ông Thái Chí T không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 227, Điều 228, và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị Thùy H.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Thùy H được ly hôn ông Thái Chí T.
[2] Về con chung: Bà Đỗ Thị Thùy H được tiếp tục nuôi dạy con chung Thái Chí Q, sinh ngày 09/9/2017 cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Ông Thái Chí T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Đỗ Thị Thùy H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Thái Chí T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về án phí:
Bà Đỗ Thị Thùy H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003578 ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, bà H đã nộp đủ án phí. Ông Thái Chí T không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo:
Thời hạn kháng cáo của của bà Đỗ Thị Thùy H là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng thời hạn kháng cáo của ông Thái Chí T là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Đức |
Bản án số 71/2024/HNGĐ-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Số bản án: 71/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
