Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 71/2023/HS-ST

Ngày: 24-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Linh Sương

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lâm Văn Vô
  2. Bà Trần Nguyệt Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự thụ lý số 60/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 78/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Huỳnh Thế M, sinh ngày 10 tháng 02 năm 1983, tại: Long An; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp D, xã P, huyện B, tỉnh Long An; nơi cư trú: Không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Huỳnh Công K, sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị N (đã chết); không có anh, chị, em ruột; không có vợ, con;

Tiền án: Ngày 15/3/2016 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2016/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2017, chưa thi hành phần án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm; ngày 07/7/2017 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 116/2017/HSST, Bản án hình sự phúc thẩm số 508/2017/HSPT ngày 22/9/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/6/2018, chưa thi hành phần án phí hình sự sơ thẩm, phúc thẩm và hình phạt bổ sung; ngày 02/10/2018 bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng) theo Bản án hình sự sơ thẩm số 83/2018/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/6/2019, chưa thi hành phần án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung; ngày 27/11/2019 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 84/2019/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/01/2023, chưa thi hành phần án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 13/02/1999 bị Ủy ban nhân dân tỉnh L quyết định đưa vào Trường G 12 tháng, do có hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Quyết định số 453/QĐ-UB ngày 13/02/1999, chấp hành xong quyết định vào ngày 20/3/2000.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an Q; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1973; nơi đăng ký HKTT và cư trú: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Long An. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Thế M là đối tượng sống lang thang, có nhiều tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Khoảng 16 giờ ngày 26/3/2023, M đi bộ vào Bệnh viện C (địa chỉ số B N, Phường A, Quận E) tìm chỗ ngủ qua đêm. Đến khoảng 02 giờ ngày 27/3/2023, M thức dậy, đi đến khu vực thang máy ở khu B, tầng trệt bệnh viện, quan sát thấy 01 điện thoại di động hiệu HUAWEI MED-LX9 và sạc dự phòng của anh Đỗ Văn T để trong túi nylon, treo gần vách tường. Khi thấy anh T và mọi người xung quanh đang ngủ say, M nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại. Thực hiện ý định, M đi bộ đến gần, lén lút dùng tay cầm lấy điện thoại của anh T rồi bỏ vào túi quần của Mỹ để tẩu thoát. Lúc này, anh Trần Quốc T1 (là bảo vệ của bệnh viện) quan sát qua camera an ninh phát hiện sự việc nên B cho anh Từ Công Quang K1 đến kiểm tra, bắt giữ được Mỹ cùng vật chứng, giải giao đến trụ sở Công an P, Quận E lập hồ sơ xử lý. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q điều tra làm rõ.

Theo Kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 31/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận E kết luận điện thoại di động hiệu HUAWEI model MED-LX9 đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 75% trị giá 1.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Huỳnh Thế M khai nhận toàn bộ hành vi trên. Lời khai của bị can phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin tội phạm, vật chứng và dữ liệu điện tử thu giữ, lời khai người bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) điện thoại di động hiệu HUAWEI model MED-LX9, số IMEI1: 865725043131826; số IMEI2: 865725043131834; 01 (một) áo sơ mi dài tay sọc caro xanh và 01 (một) quần thun dài màu xanh đen; 01 (một) đĩa CD-R hiệu Rhino chứa dữ liệu hình ảnh vụ trộm.

Về phần trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Đỗ Văn T đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 63/CT-VKS-Q5 ngày 18/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Huỳnh Thế M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Huỳnh Thế M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 đã truy tố; bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố Huỳnh Thế M về tội “Trộm cắp tài sản”; quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Huỳnh Thế M hình phạt tù với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội chưa thu lợi bất chính, không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Đỗ Văn T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường nên đề nghị không xem xét thêm. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo sơ mi dài tay sọc caro xanh và 01 (một) quần thun dài màu xanh đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu HUAWEI model MED-LX9, số IMEI1: 865725043131826; số IMEI2: 865725043131834, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý trả lại cho bị hại là đúng quy định nên không xem xét thêm.

Bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm quay về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Đối với sự vắng mặt của bị hại là ông Đỗ Văn T tại phiên tòa, xét thấy: Tại giai đoạn điều tra, ông T đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; ông T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì trong vụ án; do đó sự vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Tiếp theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Huỳnh Thế M tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa công khai, qua xét hỏi bị cáo Huỳnh Thế M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người biết việc, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 02 giờ ngày 27/3/2023, tại khu vực thang máy ở khu B, tầng trệt Bệnh viện C, số B N, Phường A, Quận E, Huỳnh Thế M có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động hiệu HUAWEI model MED-LX9 của ông Đỗ Văn T. Theo Kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 31/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận E kết luận: Điện thoại di động hiệu HUAWEI model MED-LX9 đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 75% trị giá 1.000.000 (một triệu) đồng.

Tài sản Huỳnh Thế M trộm cắp có trị giá dưới 2.000.000 (hai triệu) đồng nhưng bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự số 84/2019/HS-ST ngày 27/11/2019, tính đến ngày phạm tội chưa được xóa án tích mà còn vi phạm nên lần vi phạm này đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức để biết được hành vi xâm phạm quyền sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn chiếm đoạt tài sản của người khác nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xét xử nhiều lần về các hành vi trộm cắp tài sản, nay lại tiếp tục có hành vi “trộm cắp tài sản” của công dân.

[6] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Qua đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải có một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Căn cứ Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, nhận thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có khả năng thi hành hình phạt tiền. Căn cứ khoản 2 Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu HUAWEI model MED-LX9, số IMEI1: 865725043131826; số IMEI2: 865725043131834, là tài sản của ông Đỗ Văn T bị Huỳnh Thế M chiếm đoạt, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông T là đúng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
  • + 01 (một) áo sơ mi dài tay sọc caro xanh và 01 (một) quần thun dài màu xanh đen là tài sản cá nhân Mỹ mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021.
  • + 01 (một) đĩa CD-R hiệu Rhino là dữ liệu điện tử chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy bị hại là ông Đỗ Văn T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo cũng như các vấn đề xử lý vật chứng, giải quyết phần dân sự là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, đúng quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Huỳnh Thế M 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 3 năm 2023.

  2. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo sơ mi dài tay sọc caro xanh và 01 (một) quần thun dài màu xanh đen (Tình trạng giao nhận các vật chứng nêu trên như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/6/2023 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
    • - Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa CD-R hiệu Rhino.
  3. Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

    Buộc bị cáo Huỳnh Thế M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

    Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TpHCM;
  • - Sở Tư pháp TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Phòng PV 06 – Công an TPHCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Linh Sương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2023/HS-ST ngày 24/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 71/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thế M-Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger