|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 71/2024/HS-ST Ngày 28 - 5 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thuỳ Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Hữu Tấn – Cán bộ hưu trí
- Ông Nguyễn Tấn Hậu – Hiệu trưởng trường THCS Mạc Đỉnh Chi
Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền – Kiểm sát viên và bà Dương Thị Xuân T – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2024/HSST ngày 07 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 05 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T1 (T, Tín Đ), sinh ngày 02 tháng 12 năm 1990; tại Thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; nơi đăng ký cư trú: Số A, tổ F, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 08/12; cha là Nguyễn Văn A, sinh năm 1967; mẹ là Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1969; Bị cáo có 02 anh chị em, bị cáo là người thứ nhất; Bị cáo sống chung như vợ chồng với Đặng Thị L, sinh năm 1992 và có 01 con sinh năm 2023.
Quá trình nhân thân: Ngày 09 tháng 6 năm 2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong ngày 17 tháng 01 năm 2009. Ngày 29 tháng 3 năm 2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong ngày 01 tháng 05 năm 2017. Ngày 19 tháng 01 năm 2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong ngày 28 tháng 12 năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 22 tháng 01 năm 2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty cổ phần T3;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Trường G, sinh năm 1991 (vắng mặt);
Địa chỉ: số B, ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp;
Địa chỉ liên hệ: Nhà trọ không tên, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Ngô Thị Bích P, sinh năm 1996 (vắng mặt);
Địa chỉ: Khóm S, thị trấn N, thị xã T, tỉnh An Giang;
+ Ông Lê Thanh T2, sinh năm 1999 (vắng mặt);
Địa chỉ: số B, khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang;
+ Anh Bùi Thanh S, sinh ngày 13 tháng 7 năm 2010 (vắng mặt);
Người đại diện hợp pháp: Nguyễn Thị Thanh P1 (mẹ S) (vắng mặt)
Cùng cư trú: Ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Bùi Thanh S là: Bà Phạm Thanh Ai D, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A (có mặt);
Địa chỉ: Số H đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ ngày 15 tháng 12 năm 2023, Nguyễn Văn T1 đang ở nhà thì cháu của T1 là Bùi Thanh S (C), sinh ngày 15 tháng 7 năm 2010, đi cùng một người thanh niên không rõ nhân thân đến kêu T1 đẩy tủ về tiếp, thì T1 đồng ý. Tín, S và người thanh niên trên đến cửa hàng B, đường P, tổ A, khóm T, phường M, thành phố L (trực thuộc Công ty Cổ phần T3), S nói với T1 “để con vô đẩy cái tủ ra”, thì T1 biết là lấy trộm tài sản của cửa hàng Bách Hóa X. T1 đứng ngoài cảnh giới, còn S và người thanh niên vào cửa hàng lấy trộm 01 két sắt nhãn hiệu Hòa Phát và 01 xe đẩy nhỏ, màu xanh tải trọng tối đa 150kg của Công ty P2 ra chỗ Tín. Tín và người thanh niên khiêng két sắt lên xe đẩy và cả 03 người thay phiên đẩy két sắt về căn nhà hoang đối diện nhà T1 thuộc tổ F, khóm Đ, phường M, thành phố L. Xong T1 nói “Có đi đâu thì đi đi, thấy chua quá” nên S và người thanh niên bỏ đi đâu không rõ, còn T1 về nhà lấy xà ben đến cạy két sắt mở ra lấy toàn bộ số tiền trong két sắt, rồi lấy xe đẩy két sắt bỏ xuống sông tại vị trí cầu K. Số tiền lấy trộm, T1 tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 22 tháng 01 năm 2024, T1 đến Công an phường M đầu thú hành vi trộm cắp tài sản.
* Kết luận giám định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố L: 01 két sắt nhãn hiệu Hòa Phát đã qua sử dụng; 01 xe đẩy nhỏ tải trọng tối đa 150kg của Công ty P2 đã qua sử dụng: Không có cơ sở để xác định giá trị tài sản.
Ông Hồ Trường G (đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần T3) trình bày: Ngày 15 tháng 12 năm 2023, cửa hàng Bách Hóa X bị mất trộm 01 két sắt bên trong có 64.062.000 đồng (tiền bán hàng tại cửa hàng B ngày 14 tháng 12 năm 2023), 01 xe đẩy nhỏ tải trọng tối đa 150kg. Yêu cầu bồi thường thiệt hại cho Công ty 64.062.000 đồng.
Bà Ngô Thị Bích P, ông Lê Thanh T2 (nhân viên quản lý và nhân viên bán hàng cửa hàng Bách Hóa X), trình bày: Ngày 15 tháng 12 năm 2023, cửa hàng Bách Hóa X bị mất trộm tài sản như nội dung vụ án đã nêu. Ngày 14 tháng 12 năm 2023, sau khi cửa hàng đóng cửa, kết thúc bán hàng thì P và T2 trực tiếp kiểm tra tiền, xong P để tiền vào két sắt để tại quầy thu ngân theo quy định của Công ty.
Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Văn T1 khai nhận: Ngày 15 tháng 12 năm 2023, T1 cùng S và 01 người thanh niên không rõ nhân thân trộm cắp tài sản 01 xe đẩy nhỏ, 01 két sắt tại cửa hàng B như nội dung vụ án đã nêu. Tín khai bên trong két sắt chỉ có hơn 18.000.000 đồng.
Cáo trạng số 76/CT-VKSLX-HS, ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên xét thấy, căn cứ chứng cứ hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định bên trong két sắt có 64.062.000 đồng, việc T1 khai nại chỉ nhằm né tránh trách nhiệm hình sự. Căn cứ tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra đủ chứng cứ để bác lời khai nại của T1. Kết luận truy tố bị cáo Nguyễn Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (viết tắt là Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, nhưng số tiền bị cáo lấy trộm chỉ là 18.000.000 đồng, không phải 64.062.000 đồng. Khi bị cáo ra đầu thú, Công an có thu giữ của bị cáo 01 (một) điện thoại di động, bị cáo không yêu cầu xử lý tài sản này.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội: Giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Nguyễn Văn T1, và đề nghị:
- Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử lý vật chứng: Không có vật chứng để xử lý.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, chấp nhận buộc bị cáo Nguyễn Văn T1 bồi thường thiệt hại cho Công ty cổ phần T3 số tiền 64.062.000 đồng.
Trợ giúp viên pháp lý Phạm Thanh Ái D phát biểu ý kiến: Bùi Thanh S tuy thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng do S chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, và không chiếm đoạt số tiền 64.062.000 đồng, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không tuy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp quy định pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét xử phạt đúng người đúng tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1]Tòa án đã triệu tập hợp lệ, nhưng đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt. Thấy rằng, quá trình điều tra, truy tố họ đã cung cấp lời khai. Do đó, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử; nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại các Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[1.2] Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
[2.1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định: Vào ngày 15 tháng 12 năm 2023, lợi dụng tài sản không có người trông giữ, bị cáo Nguyễn Văn T1 và Bùi Thanh S cùng một người nam chưa rõ nhân thân đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản tại cửa hàng B.
[2.2] Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Bị cáo khai nhận bị cáo chỉ chiếm đoạt được số tiền 18.000.000 đồng từ két sắt bị lấy trộm. Căn cứ lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; lời khai của bị cáo; các tài liệu chứng cứ về việc quản lý tiền mặt tại cửa hàng B và các chứng cứ khác, đã đủ cơ sở xác định được số tiền đưa vào két sắt, có bên trong két trước khi bị lấy trộm là 64.062.000 đồng. Bị cáo thừa nhận từ khi lấy két sắt ra khỏi cửa hàng Bách Hóa X cho đến khi bị cáo đục mở két sắt thì két sắt vẫn trong tình trạng bị khóa niêm phong. Khi đục mở két sắt để lấy tiền thì chỉ có một mình bị cáo thực hiện, không có người chứng kiến, bản thân bị cáo không nhớ rõ số tiền lấy trộm gồm những tờ tiền mệnh giá gì, chỉ nhớ là đếm được hơn 18.000.000 đồng. Ngoài lời khai, bị cáo không có chứng cứ nào chứng minh số tiền đã lấy là 18.000.000 đồng. Mặt khác, bị cáo thừa nhận mục đích của bị cáo lấy và đục mở két sắt là để lấy trộm toàn bộ số tiền, tài sản có trong két. Như vậy, đã có đầy đủ căn cứ xác định số tiền bị cáo chiếm đoạt là 64.062.000 đồng.
[2.3] Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L thì không có có sở để xác định giá trị 01 xe đẩy nhỏ, 01 két sắt. Nên không có căn cứ để xác định giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt đối với các tài sản này.
[2.4] Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên.
[3] Về hình phạt đối với bị cáo:
[3.1] Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. nhiều lần bị xử lý hình sự, có quá trình cải tạo tại trại giam. Bị cáo phải cần cù lao động, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn nhanh chóng có tiền để tiêu xài mà không phải tốn nhiều công sức lao động hợp pháp, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” trong khi bản thân nhận thức được rất rõ hành vi đó là vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi đã thực hiện, bản thân bị cáo đã ra đầu thú. Do đó, cần xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3.3] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về bồi thường thiệt hại: Hành vi của bị cáo đã gây thiệt hại cho bị hại. Bị hại chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 64.062.000 đồng đã chiếm đoạt. Bị cáo không chứng minh được số tiền chiếm đoạt là ít hơn, nên bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại số tiền này. Bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại do xe đẩy, két sắt bị mất, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng: Bị cáo không có tài liệu, chứng cứ chứng minh khi bị cáo đầu thú, Công an đã thu giữ của bị cáo một điện thoại di động, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú ghi nhận không tạm giữ của bị cáo tài sản nào. Tại phiên tòa bị cáo cũng không yêu cầu giải quyết về vấn đề này. Do đó, xác định không có vật chứng cần xử lý trong vụ án.
[6] Đối với Bùi Thanh S (sinh năm 2010), cùng với T1 thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng S chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không truy cứu là có căn cứ. Người thanh niên không rõ nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.
[7] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T1 (T, Tín Đ) phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T1 (T, T) 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 22 tháng 01 năm 2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Buộc Nguyễn Văn T1 (T, Tín Đ) có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Công ty cổ phần T3 số tiền 64.062.000 đồng (sáu mươi bốn triệu không trăm sáu mươi hai nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T1 (T, Tín Đ) phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.203.100 đồng (ba triệu hai trăm linh ba nghìn một trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thùy Giang |
Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 71/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản
