TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 71/2024/HS-ST Ngày: 26/9/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Quang Sơn
- Ông Hoàng Ngọc Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 10/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. A, sinh năm 1998; nơi sinh và nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị M; có vợ là Trịnh Thị B; có 01 con; tiền án: Bản án số 176 ngày 29/12/2022 của TAND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt Nguyễn Văn D 16 tháng cải tạo không giam giữ về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự (chấp hành xong hình phạt chính ngày 28/6/2024; chưa nộp tiền phạt và khấu trừ thu nhập); tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 04/7/2024, chuyển tạm giam từ ngày 08/7/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt tại phiên tòa.
2/ Nguyễn Văn Q, sinh năm 1989; nơi sinh và nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn X và bà Vũ Thị Đ; có vợ là Phạm Thị N; có 02 con; tiền án: không; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1831 ngày 27/5/2024 của Chủ tịch UBND huyện T xử phạt 4.000.000 đồng về hành vi khai thác khoáng sản trái phép (nộp tiền phạt ngày 27/5/2024); bị tạm giữ từ ngày 04/7/2024, chuyển tạm giam từ ngày 08/7/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt tại phiên tòa.
3/ Đặng Thành T, sinh năm 1993; nơi sinh và nơi cư trú: số nhà A đường C, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Sinh T1 và bà Nguyễn Thị T2; Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 06/7/2024, chuyển tạm giam từ ngày 08/7/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trịnh Thị B, sinh năm 1998, địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; có mặt
- Ngân hàng Thương mại cổ phần C.
+ Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B1- Chủ tịch Hội đồng quản trị; vắng mặt.
Địa chỉ: A T, phường C, quận H, Hà Nội.
+ Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Chu Thị Bích N1- Phó giám đốc Ngân hàng TMCP C chi nhánh H; có mặt.
Địa chỉ: Số A Đường H, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn B2
- Anh Trần Đức P
(Tại phiên toà những người làm chứng đều vắng mặt.)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn Q là bạn bè quen biết nhau. Tối ngày 03/7/2024, D rủ Q góp 200.000 đồng, D góp 1.000.000 đồng để mua ma tuý về sử dụng, Q đồng ý. Do quen biết với Đặng Thành T ở phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương, D gọi điện thoại cho T hỏi mua ma tuý với giá 1.200.000 đồng, T đồng ý và bảo D đến trước cửa số nhà H, đường T, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương để lấy ma tuý. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, D điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Hyundai I10 màu đỏ, biển số 34A-456.71 của mình đến khu vực trước cửa số nhà H, đường T, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương gặp T, T đưa cho D 01 túi nilon bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 mảnh giấy ghi nội dung “Ngân hàng V1 0376209129 Đặng Thành T”. T bảo D ngày hôm sau chuyển tiền vào số tài khoản trên. D cầm túi nilon đựng ma tuý và mảnh giấy để trên xe ô tô rồi điều khiển xe về quán bia của anh Nguyễn Văn T3 ở thôn L, xã T, huyện T. Tại đây D gặp Q và anh Nguyễn Văn B2 đang ngồi uống bia tại quán. D, Q rủ Ba sử dụng trái phép chất ma tuý, Ba đồng ý. D điều khiển xe ô tô chở Q, Ba đến khu vực đường gom cao tốc Hà Nội-Hải Phòng thuộc địa phận thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương thì dừng lại. D chuyển xuống ngồi ghế sau cùng Q, Ba lên ghế lái ngồi. D đổ gói ma túy loại Ketamine ra đĩa sứ, rồi lấy bật lửa ga đốt nóng và lấy thẻ nhựa xào ma túy. Sau khi xào xong, D lấy tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn làm ống hút. Lần lượt D, Q, Ba sử dụng trái phép chất ma túy (bằng hình thức hít), đến 22 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 bật lửa ga màu đỏ nhãn hiệu Thống Nhất, 01 đĩa sứ màu trắng đường kính 20cm, 01 ống hút được cuộn tròn bằng tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng; 01 túi nilon màu trắng kích thước 3x2cm; 01 thẻ nhựa cứng màu vàng có ghi chữ “Thẻ khách hàng 2.000.000đ”, 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai I10 màu đỏ, biển số 34A-456.71.
Tại Kết luận giám định số 334 ngày 06/7/2024 của phòng K công an tỉnh H kết luận: Chất bột màu trắng bám dính trên mặt đĩa sứ, lòng ống hút cuộn bằng tờ tiền Polymer mệnh giá 10.000đ, trong túi nilon, trên thẻ nhựa cứng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Ketamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
Tại bản cáo trạng số 51/CT-VKSHD-TH ngày 09/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Đặng Thành T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận và trình bày toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã mô tả.
+ Bà Chu Thị Bích N1- người đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng TMCP C ý kiến: Ngân hàng không biết và không có lỗi trong việc bị cáo D sử dụng xe ô tô vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Do xe này đang là tài sản thế chấp tại Ngân hàng, để đảm bảo quyền lợi của Ngân hàng, đề nghị Tòa án ưu tiên phương án thứ nhất là giao xe ô tô cho Ngân hàng TMCP C chi nhánh H quản lý để chúng Ngân hàng tự xử lý thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Trường hợp Toà án không chấp nhận phương án thứ nhất thì Ngân hàng đề nghị phương án thứ hai là giao xe cho Cơ quan thi hành án phối hợp với Ngân hàng bán phát mại xe ô tô để thu hồi nợ của Ngân hàng, số tiền còn thừa sau khi trả nợ Ngân hàng thì do Toà án xử lý theo quy định pháp luật. Tuy nhiên Ngân hàng vẫn mong Toà án ưu tiên chấp nhận phương án thứ nhất.
+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Trịnh Thị B xác định chị không biết và không có lỗi trong việc bị cáo D sử dụng xe ô tô vào việc phạm tội. Hiện xe ô tô Hyundai I10 đó đang được thế chấp tại Ngân hàng TMCP C chi nhánh H để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của vợ chồng chị. Chị nhất trí giao xe ôtô cho ngân hàng để ngân hàng chủ động xử lý khoản nợ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Thành T phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn Q phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T, đề nghị xử phạt bị cáo T từ 30-33 tháng tú, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/7/2024. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo D, Q; áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo D, đề nghị xử phạt bị cáo D từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/7/2024; xử phạt bị cáo Q từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/7/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 213, 297, 298, 317, 323 Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật viễn thông: Đề nghị truy thu của bị cáo D số tiền 1.200.000đ. Đề nghị tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax. Đề nghị tịch thu tiêu huỷ sim điện thoại số 0562.119.xxx và sim số 0932821998, 01 bật lửa ga màu đỏ nhãn hiệu Thống Nhất, 01 đĩa sứ màu trắng; 01 túi nilon màu trắng; 01 thẻ nhựa cứng màu vàng có ghi chữ “Thẻ khách hàng 2.000.000đ” cùng các vỏ phong bì niêm phong kèm theo. Yêu cầu nhà mạng V và M1 thu hồi 02 số 0562.119.132, 0932.821.998 và tịch thu số tiền hiện có trong tài khoản của hai số thuê bao này sung quỹ nhà nước. Giao chiếc xe ô tô cho Ngân hàng V1 và Chi cục THADS huyện T tịch thu phát mại chiếc xe ô tô để thanh toán cho ngân hàng V1 số tiền gốc còn lại và lãi phát sinh, tịch thu 1/2 giá trị chiếc ô tô còn lại sau khi thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng, trả lại cho chị Trịnh Thị B ½ chiếc ô tô sau khi đã thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng. Đối với 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng, cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền này. Đối với 01 mảnh giấy ghi nội dung “Ngân hàng V1 0376209129 Đ” tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03/7/2024, tại khu vực trước cửa số nhà H, đường T, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Thành T4 bán trái phép 01 túi nilon đựng ma tuý, loại Ketamine cho Nguyễn Văn D. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn Q rủ Nguyễn Văn B2 sử dụng trái phép chất ma tuý trên xe ô tô đang đỗ tại khu vực đường gom cao tốc Hà Nội-Hải Phòng, địa phận thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương thì bị Công an phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo T4 đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo D, Q đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng chất ma túy, xâm phạm tới trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
Trong vụ án tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, D là người đề xuất, rủ Q góp tiền mua ma tuý về sử dụng, đồng thời D cũng là người trực tiếp đi mua ma tuý, chuẩn bị các công cụ, phương tiện, địa điểm sử dụng ma tuý nên D giữ vai trò thứ nhất. Quyết sau khi được D đề nghị góp tiền mua ma tuý, Q đã đồng ý ngay, sau đó Q lại cùng D rủ thêm anh B2 sử dụng ma tuý cùng mình nên Q là người thực hành tích cực và giữ vai trò sau D.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo T4, Q không có tình tiết tăng nặng nào. Bị cáo D đã bị kết án về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, chưa được xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên cả ba bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Ngoài ra, về nhân thân bị cáo Q có 01 tiền sự như đã nêu trên. Do đó Toà án sẽ căn cứ vào tính chất, hành vi phạm tội, vai trò cũng như yếu tố nhân thân, tình tiết tăng năng và tình tiết giảm nhẹ của mỗi bị cáo để lượng hình phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, do các bị cáo đã sử dụng các điện thoại này để liên lạc mua bán ma tuý, hỗ trợ việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước. Đối với sim điện thoại số 0562.119.xxx và số 0932821998, 01 bật lửa ga màu đỏ nhãn hiệu Thống Nhất, 01 đĩa sứ màu trắng; 01 túi nilon màu trắng; 01 thẻ nhựa cứng màu vàng có ghi chữ “Thẻ khách hàng 2.000.000đ” cùng các vỏ phong bì niêm phong kèm theo, xét các vật chứng này đều liên quan tới việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy. Ngoài ra cần yêu cầu nhà mạng Vietnamobile thu hồi số thuê bao di động 0562.119.132, yêu cầu nhà mạng Mobifone thu hồi số thuê bao di động 0932.821.998; tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền trong tài khoản thuê bao di động số 0562119132, 0932821998 (nếu có).
Đối với 01 mảnh giấy ghi nội dung “Ngân hàng V1 0376209129 Đặng Thành T” cần tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.
Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai I10 màu đỏ biển số 34A-456.71: Xét tuy D đã tổ chức cho mọi người sử dụng trái phép chất ma tuý trên xe ô tô này, nhưng xe ô tô này hiện đang được vợ chồng bị cáo D thế chấp tại Ngân hàng TMCP C để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán nợ của họ. Chị B và Ngân hàng không biết bị cáo D sử dụng xe đó vào việc phạm tội. Do đó cần giao xe ô tô Hyundai I10 màu đỏ biển số 34A-456.71 cho Ngân hàng TMCP C quản lý để cùng vợ chồng bị cáo D giải quyết quan hệ thế chấp tài sản và trả nợ tiền vay theo quy định của pháp luật và thỏa thuận giữa các bên. Trường hợp có tranh chấp không tự giải quyết được thì có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
Đối với ống hút ma tuý, do ống hút được cuộn bằng tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền này.
D và Q đã góp tiền mua ma tuý, tổng số tiền góp được là 1.200.000đ. Do D đã quản lý và tiêu sài cá nhân hết số tiền này nên cần truy thu số tiền này từ D.
[7] Đặng Thành T khai nguồn gốc số ma tuý bán cho Nguyễn Văn D là mua của một người đàn ông không quen biết nên không có căn cứ xử lý người bán ma tuý cho T.
Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn B2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
[8] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Thành T.
Căn cứ Điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn Q; áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo D.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, b, c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thành T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Nguyễn Văn D, bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 8 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/7/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/7/2024.
Xử phạt bị cáo Đặng Thành T 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/7/2024.
3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax. Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 10.000đ.
- Tịch thu tiêu huỷ sim điện thoại số 0562.119.xxx và số 0932821998, 01 bật lửa ga màu đỏ nhãn hiệu Thống Nhất, 01 đĩa sứ màu trắng; 01 túi nilon màu trắng; 01 thẻ nhựa cứng màu vàng cùng các vỏ phong bì niêm phong kèm theo.
- Yêu cầu nhà mạng Vietnamobile thu hồi số thuê bao di động 0562119132, yêu cầu nhà mạng Mobifone thu hồi số thuê bao di động 0932821998; đồng thời tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền trong tài khoản thuê bao di động số 0562119132 và số 0932821998 (nếu có).
- Giao xe ô tô Hyundai I10 màu đỏ biển số 34A-456.71 cho Ngân hàng TMCP C chi nhánh H quản lý để cùng bị cáo Nguyễn Văn D và chị Trịnh Thị B giải quyết quan hệ thế chấp tài sản và trả nợ tiền vay theo quy định của pháp luật và thỏa thuận giữa các bên. Trường hợp có tranh chấp không tự giải quyết được thì có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà).
- Tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án 01 mảnh giấy ghi nội dung “Ngân hàng V1 0376209129 Đặng Thành T”.
- Truy thu của bị cáo D số tiền 1.200.000đ sung Ngân sách nhà nước.
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn Q, Đặng Thành T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan của bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nhung |
Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (mua bán trái phép chất ma tuý; tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 71/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma tuý; Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mua bán ma túy
