Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM DƯƠNG

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HS-ST

Ngày 26 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Hoàng

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Duyên và bà Hoàng Thị Hanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Khổng Phương Thùy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Dương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2024/HSST ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với:

- Các bị cáo:

1. Phạm Xuân N, sinh năm 1995 tại xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 9/12; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Phạm Xuân H và bà Đỗ Thị T; có vợ là Nhiếp Thị Hải L; con: Có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 29/2012/HSST ngày 26/4/2012 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Phạm Xuân N 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” (bị cáo đã chấp hành xong án phí ngày 31/5/2012); Tại Quyết định số 04/QĐ-TA ngày 19/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Xuân N, thời hạn 18 tháng (bị cáo đã chấp hành xong thời gian cai nghiện bắt buộc ngày 06/4/2016); Tại Bản án số 12/2017/HSST ngày 23/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương xử phạt Phạm Xuân N 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 16/3/2019 và chấp hành xong án phí ngày 29/5/2019). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/3/2024 đến nay (có mặt).

2. Nguyễn Văn H1, sinh năm 1991 tại xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 8/12; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; vợ là Trần Thị H2 (đã ly hôn); con: Có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/3/2024 đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 13/3/2024, Nguyễn Văn H1 đang ở nhà thì gọi điện thoại cho Phạm Xuân N hỏi mua của N 500.000đồng tiền ma túy ngựa và ma tuý đá (Methamphetamine), N đồng ý và bảo H1 đến nhà N. Sau đó, Nguyễn Văn H1 chuyển khoản số tiền 500.000đồng từ số tài khoản 9329.267.688, Ngân hàng TMCP N1 của H1 đến số tài khoản 0389.010.123, Ngân hàng TMCP Q của N để thanh toán tiền mua ma tuý rồi H1 đi xe taxi từ nhà H1 đến nhà N để lấy ma tuý. Khi đến gần nhà N, H1 bảo lái xe taxi đỗ ngoài ngã ba gần nhà N rồi H1 xuống xe đi vào nhà gặp N thì N đưa cho H1 02 túi ma tuý (Methamphetamine). H1 cất 02 túi ma tuý vào túi áo khoác bên phải đang mặc rồi ra xe taxi và bảo lái xe taxi chở đến quán C thuộc tổ dân phố S, thị trấn K, huyện T để rủ người bạn mới quen tên là G cùng sử dụng ma tuý. Khi đến quán, Nguyễn Văn H1 trả tiền taxi rồi xuống xe đi vào quán nhưng chưa kịp vào thì bị Công an huyện T kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: T2 tại túi áo khoác bên phải Nguyễn Văn H1 đang mặc 02 túi nilon, trong đó 01 túi nilon màu trắng có khóa bấm, phía trên khóa bấm có viền kẻ màu xanh, bên trong chứa các hạt tinh thể dạng đá màu trắng và 01 túi nilon màu trắng có khóa bấm, phía trên khóa bấm có viền kẻ màu xanh, bên trong chứa 02 viên nén màu đỏ, niêm phong ký hiệu A1 (H1 khai đây là 02 túi ma túy Methamphetamine của H1 mua của N để sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu vàng đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0329.267.288.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Xuân N tại thôn K, xã T, huyện T. Kết quả thu giữ một số đồ vật, tài liệu gồm:

  • T2 tại túi áo phía dưới Phạm Xuân N đang mặc 01 túi nilon nhỏ, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng dạng đá, túi có khóa bấm, phía trên viền màu xanh, niêm phong ký hiệu A2;
  • Thu tại túi quần trước bên trái Phạm Xuân N đang mặc số tiền 1.300.000đồng (01 tờ mệnh giá 500.000đồng, 03 tờ mệnh giá 200.000đồng, 02 tờ mệnh giá 100.000đồng);
  • T2 tại vị trí trên mặt kệ tủ để máy tính 01 viên nén nhỏ màu hồng, niêm phong ký hiệu A3;
  • Thu tại vị trí ngăn tủ phía trên máy tính 02 túi nilon nhỏ màu trong suốt, viền trắng, phía trên màu xanh, bên trong chứa các sợi tối màu, niêm phong ký hiệu A4;
  • T2 tại vị trí ngăn tủ kính phía trên kệ tủ máy tính 01 túi nilon nhỏ trong suốt có khóa bấm màu trắng, phía trên viền đỏ bên trong có các hạt tinh thể màu trắng dạng đá, niêm phong ký hiệu A5;
  • Thu rải rác tại vị trí sập gỗ, trên nền nhà 03 túi nilon trong suốt có khóa bấm, bên trong bám dính các hạt tinh thể màu trắng, niêm phong ký hiệu A6;
  • T2 tại vị trí đuôi giường ngủ trong phòng 01 túi nilon trong suốt có khóa bấm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng và thu giữ trong chiếc hộp có chứa 192 túi nilon rỗng khác, niêm phong ký hiệu A7;
  • Thu giữ tại giỏ đựng quần áo trẻ em trong phòng ngủ 03 túi nilon, trong đó 02 túi nhỏ bên trong có bám dính chất dạng tinh thể, túi có khóa màu trắng, nền đỏ; 01 túi nilon bên trong có 01 túi bóng nhỏ, 01 ống hút màu trắng, bám dính chất dạng tinh thể (túi có khóa), niêm phong ký hiệu A8;
  • Thu giữ tại bàn uống nước phòng khách 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng gold, bên trong lắp sim số 0344.946.789;
  • Thu giữ trong phòng ngủ của Phạm Xuân N 01 đĩa sứ màu trắng, hình tròn, mặt trên bám dính chất bột màu trắng, mặt dưới có các vết đốt đen, niêm phong ký hiệu A9;
  • Thu giữ tại vị trí sập gỗ trên nền nhà 01 cuộn giấy bạc, 01 bình khò gas mini màu xanh, phía trên có đầu khò; 01 chai nhựa phía trên nắp có gắn ống hút màu trắng và 01 quyển vở học sinh bên trong có 01 mảnh giấy rời có chữ và các tờ giấy kẻ ngang có chữ viết.

Ngoài ra, cơ quan điều tra còn tạm giữ 01 thẻ nhớ camera an ninh do bà Đỗ Thị T, sinh năm 1965, trú tại thôn K, xã T, huyện T (là mẹ của Phạm Xuân N) tự nguyện giao nộp để phục vụ công tác điều tra.

Ngày 14/3/2024, Phạm Xuân N đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra số tiền 500.000đồng là tiền N bán ma tuý cho Nguyễn Văn H1 ngày 13/3/2024.

Đối với mẫu ký hiệu A1: Tại Kết luận giám định số 698/KL-KTHS ngày 17/03/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V xác định: “Tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1612g (Không phảy một sáu một hai gam, không kể bao bì); 02 viên nén màu đỏ có trong ký hiệu A1 gửi giám dịnh là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,1763g (Không phảy một bẩy sáu ba gam, không kể bao bì)”. Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định A1 còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1 (viên nén màu đỏ) = 0,1400 gam; A1 (tinh thể trắng) = 0,1298 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ”.

Đối với các mẫu ký hiệu A2, A3, A4, A5, A7: Tại Kết luận giám định số 703/KL-KTHS ngày 18/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V, xác định: “Tinh thể dạng đá của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,4772g (Một phảy bốn bảy bảy hai gam, không kể bao bì), loại Ketamine; 01 viên nén màu hồng của mẫu ký hiệu A3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1077g (Không phải một không bảy bảy gam, không kể bao bì), loại Methamphetamine; Các sợi màu vàng dạng tổ chức thực vật của mẫu ký hiệu A4 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1062g (Không phảy một không sáu hai gam, không kể bao bì), loại ADB-BUTINACA; Tinh thể dạng đá của mẫu ký hiệu A5 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1510g (Không phảy một năm một không gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine; Tinh thể dạng đá của mẫu ký hiệu A7 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2149g (Không phảy hai một bốn chín gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine”. Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A2 = 0,8156 gam; A3 = 0,0314 gam; A4 = 0,0000 gam; A5 = 0,0519 gam và A7 = 0,1267 gam, được niêm phong chung một túi nilon theo đúng quy định pháp luật.

Đối với các mẫu ký hiệu A6, A8, A9: Tại Kết luận giám định số 702/KL-KTHS ngày 18/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V, xác định: “Bên trong 03 túi nilon của mẫu ký hiệu A6 gửi giám định có bám dính chất ma túy, loại Methamphetamine. Không xác định được khối lượng các tinh thể màu trắng do lượng mẫu nhỏ; Bên trong 03 túi nilon và 01 chiếc ống hút của mẫu ký hiệu A8 gửi giám định có bám dính chất ma túy, loại Methamphetamine. Không xác định được khối lượng các tinh thể màu trắng do lượng mẫu nhỏ. Trên bề mặt của đĩa sứ hình tròn màu trắng của mẫu ký hiệu A9 gửi giám định có bám dính chất ma túy, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng các tinh thể màu trắng do lượng mẫu nhỏ.” Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: 03 vỏ túi nilon của mẫu ký hiệu A6, 03 vỏ túi nilon và 01 chiếc ống hút của mẫu ký hiệu A8 và 01 đĩa sứ màu trắng của mẫu ký hiệu A9 được niêm phong đúng quy định pháp luật.

Kết quả giám định Kỹ thuật số và điện tử đối với 01 thẻ nhớ camera an ninh do bà Đỗ Thị T (mẹ của Phạm Xuân N) giao nộp: Tại Kết luận giám định số 1476/KL-KTHS ngày 26/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận: “Trích xuất được 4,04KB (4.412 bytes) dữ liệu trong thẻ nhớ gửi giám định, toàn bộ dữ liệu trích xuất được lưu vào 01 đĩa DVD. Kèm theo kết luận giám định có 01 đĩa DVD”. Qua giám định xác định không có dữ liệu nào liên quan đến hành vi phạm tội của Phạm Xuân N.

Kết quả giám định Kỹ thuật số và điện tử đối với điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng gold, bên trong lắp sim số 0344.946.789 tạm giữ của Phạm Xuân N: Tại Kết luận giám định số 1477/KL-KTHS ngày 26/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V, xác định: “Không khôi phục, trích xuất được dữ liệu trong điện thoại di động gửi giám định do không có mật khẩu mở khoá màn hình, không kết nối được với thiết bị sao trích dữ liệu. Khôi phục, trích xuất được dữ liệu trong 01 thẻ sim có in hàng số: 8984048000931336456 gửi giám định, qua kiểm tra phân tích không phát hiện có dữ liệu theo nội dung yêu cầu giám định”.

Các bị cáo Phạm Xuân N và Nguyễn Văn H1 đã được nhận thông báo các kết luận giám định trên và đều không có thắc mắc hay khiếu nại gì.

Về nguồn gốc ma túy Ketamine và ma tuý Methamphetamine thu giữ của Phạm Xuân N, N khai nhận: Tối ngày 10/3/2024, Phạm Xuân N đến một quán nước ven đường ở thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (N không nhớ địa điểm cụ thể của quán nước) gặp 01 người phụ nữ tên là H3 và mua của H3 1.000.000đồng ma túy Ketamine, 800.000đồng ma túy đá Methamphetamine và 05 viên ma túy ngựa (M) với giá 400.000đồng, tổng số tiền là 2.200.000đồng. Sau khi mua được ma túy, Phạm Xuân N mang về nhà sử dụng một ít ma tuý Ketamine và 02 viên ma tuý ngựa (Methamphetamine), số ma tuý còn lại N đóng gói vào các túi nilon nhỏ rồi cất giấu trong nhà nhằm bán cho các đối tượng nghiện để kiếm lời. Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 13/3/2024, sau khi Nguyễn Văn H1 gọi điện thoại cho N hỏi mua 500.000đồng tiền ma túy ngựa và ma tuý đá (Methamphetamine), N chia một ít ma tuý đá Methamphetamine vào 01 túi nilon màu trắng có khóa bấm, phía trên khóa bấm có viền kẻ màu xanh và cho 02 viên nén ma tuý ngựa (Methamphetamine) vào 01 túi nilon màu trắng có khóa bấm phía trên khóa bấm có viền kẻ màu xanh rồi bán cho H1, phần ma túy còn lại N cất giấu trong nhà, đến khi Cơ quan Công an khám xét và thu giữ số ma túy trên. Đối với việc Phạm Xuân N cất giấu ma túy tại nhà, quá trình điều tra xác định những người khác trong gia đình N đều không biết và không tham gia giúp sức gì cho N.

Về nguồn gốc 02 túi ma tuý (ADB-BUTINACA) thu giữ của Phạm Xuân N, N khai nhận: Vào dịp tết năm 2024, N được 01 nam giới quen biết qua mạng xã hội cho N 02 túi ma tuý này để sử dụng, N biết đây là ma tuý nhưng N không sử dụng mà cất giấu nhằm có ai hỏi mua thì sẽ bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị cơ quan Công an khám xét và thu giữ số ma túy trên. Bản thân N không biết họ tên, tuổi, địa chỉ của người nam giới này, ngoài lời khai của N thì cũng không có tài liệu nào xác định được nhân thân, lai lịch của nam giới đã cho N 02 túi ma tuý trên.

Đối với người phụ nữ tên là H3 đã bán ma túy cho Phạm Xuân N, quá trình điều tra N khai ngày 10/3/2024 là lần đầu tiên N mua ma túy của H3. Bản thân N không biết họ tên, tuổi, địa chỉ và số điện thoại của H3, ngoài lời khai của N thì cũng không có tài liệu nào xác định được nhân thân, lai lịch của người phụ nữ tên là H3 đã bán ma túy cho N.

Đối với người nam giới tên G, là đối tượng mà H1 định rủ để cùng sử dụng ma tuý với H1 ngày 13/3/2024. Cơ quan điều tra đã xác minh tại quán C tuy nhiên không có ai tên G như H1 đã khai. Bản thân H1 cũng không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này, vì vậy cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch người nam giới này.

Đối với người lái xe taxi chở Nguyễn Văn H1 đi mua ma tuý, H1 khai không trao đổi gì với người lái xe về việc đi mua ma tuý. Quá trình điều tra không xác định được người lái xe này.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành lập biên bản kiểm tra nhật ký cuộc gọi đi, cuộc gọi đến, tin nhắn đi, tin nhắn đến đối với các điện thoại thu giữ của Phạm Xuân N và Nguyễn Văn H1, đồng thời tra cứu thông tin các chủ thuê bao và lịch sử giao dịch các số điện thoại của N và H1, tra cứu thông tin và sao kê giao dịch số tài khoản 9329.267.688, Ngân hàng TMCP N1 của H1 và số tài khoản 0389.010.123, Ngân hàng TMCP Q của N, thể hiện có việc chuyển khoản và các cuộc gọi đi, gọi đến giữa N và H1 phù hợp với nội dung sự việc đã nêu trên.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, bên trong lắp sim số 0389.010.123, N sử dụng để đăng nhập ứng dụng liên kết với số tài khoản 0389.010.123, Ngân hàng TMCP Q, N đã vứt bỏ điện thoại này khi bị cơ quan điều tra khám xét nhà của N, hiện không thu giữ được.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Xuân N và Nguyễn Văn H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số 68/CT-VKSTD ngày 06 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương đã truy tố bị cáo Phạm Xuân N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Nguyễn Văn H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương trình bày luận tội đối với các bị cáo; giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo: Phạm Xuân N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Văn H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đồng thời đề nghị:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Xuân N từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 14/3/2024)
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 13/3/2024)
  • Đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo N từ 5.000.000đồng đến 10.000.000đồng.
  • Về vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước các phương tiện, công cụ và số tiền sử dụng vào việc phạm tội; tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định, các công cụ, phương tiện và tài sản không còn giá trị sử dụng; đề nghị trả lại số tiền không liên quan đến hành vi phạm tội của Phạm Xuân N nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Về án phí, đề nghị buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu và đều xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, thể hiện: Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 13/3/2024, Nguyễn Văn H1 đến nhà Phạm Xuân N và mua của N 02 túi ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,3375gam với số tiền 500.000đồng. Khi Nguyễn Văn H1 đi đến khu vực tổ dân phố S, thị trấn K, huyện T để tìm nơi sử dụng thì bị Công an huyện T kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Xuân N tại nhà riêng và thu giữ của N: 01 túi nilon ma túy Ketamine có khối lượng 1,4772 gam; 01 viên nén ma tuý Methamphetamine có khối lượng 0,1077gam; 02 túi nilon ma tuý ADB-BUTINACA có khối lượng 0,1062gam; 01 túi nilon ma tuý Methamphetamine có khối lượng 0,1510gam; 01 túi nilon ma tuý Methamphetamine có khối lượng 0,2149gam, cùng một số đồ vật, tài liệu liên quan. Như vậy, tổng khối lượng ma túy mà Phạm Xuân N tàng trữ để bán kiếm lời gồm: Methamphetamine (0,3375gam + 0,1077gam + 0,1510gam + 0,2149 gam) = 0,8111 gam; Ketamine = 1,4772gam; ADB-BUTINACA = 0,1062gam. Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng chất ma túy, trong trường hợp các chất ma túy không được quy định trong cùng một điểm thuộc các khoản của Điều 249 Bộ luật hình sự, trong trường hợp này tỷ lệ phần trăm khối lượng ma túy Methamphetamine là 16,222%; tỷ lệ phần trăm khối lượng ma túy Ketamine là 7,386%; tỷ lệ phần trăm khối lượng ma túy ADB-BUTINACA là 0,001%. Như vậy, tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng chất ma túy Methamphetamine, Ketamine, ADB-BUTINACA trong trường hợp này là: 16,222%; + 7,386% + 0,001% = 23,609% (dưới 100%).

[3] Xét lời nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được Cơ quan điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa.

[4] Hành vi bán ma túy trái phép của bị cáo Phạm Xuân N đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm."

[5] Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Văn H1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Methaphetamine.... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”;

[6] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma tuý là tệ nạn cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội. Ngoài ra, ma túy là nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo mức phạt tù nghiêm khắc, mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung

[7] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng:

Cả hai bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo Phạm Xuân Nghĩa 1 người có nhân thân xấu, trước lần phạm tội này, bị cáo đã từng bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy và tội cố ý làm hư hỏng tài sản, ngoài ra đã từng bị đưa đi cai nghiện bắt buộc, nhưng bị cáo không những không lấy làm bài học mà lại tiếp tục sử dụng ma túy và tiếp tục thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Mặc dù bị cáo đã được xóa án tích và được coi là chưa bị xử lý hành chính nhưng cũng chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải. Đối với bị cáo Nguyễn Văn H1, mặc dù chưa có tiền án, tiền sự nhưng cũng là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo đang trong độ tuổi lao động nhưng không tu chí làm ăn, sa đà vào ma túy dẫn đến hành vi phạm tội ngày hôm nay.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo thấy rằng mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương đề nghị là có căn cứ và phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với các bị cáo

[9] Về hình phạt bổ sung: Đối với Nguyễn Văn H1 là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, bị cáo không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo H1.

Đối với bị cáo Phạm Xuân N, năm 2017 bị cáo đã từng bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy, nay tiếp tục phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, mục đích bán ma túy nhằm kiếm lời. Vì vậy cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo N.

[10] Đối với những người ở cùng nhà với N, người cho N 02 túi ma tuý ADB-BUTINACA, người phụ nữ tên H3 đã bán ma túy cho N, người nam giới tên G mà H1 có ý định rủ để cùng sử dụng ma túy với H1 và người lái xe taxi chở H1 đi mua ma tuý, quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa đều không xác định được các đối tượng trên, không chứng minh được những người đó có liên quan đến hành vi tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý đối với các đối tượng trên.

[11] Đối với 01 thẻ nhớ camera an ninh do bà Đỗ Thị T (mẹ của Phạm Xuân N) đã giao nộp cho cơ quan điều tra, quá trình điều tra xác định camera này là của bà T lắp để trông vườn rau, không liên quan đến hành vi phạm tội của Phạm Xuân N nên cơ quan điều tra đã trả lại thẻ nhớ trên cho bà T là đúng quy định pháp luật.

[12] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với số ma túy còn lại sau giám định và các vỏ túi nilon, ống hút, đĩa sứ, cuộn giấy bạc, bình khò ga (phía trên có đầu khò), chai nhựa gắn ống hút, quyển vở học sinh, bên trong có 01 mảnh giấy rời có chữ và các tờ giấy kẻ ngang có chữ viết cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với số tiền 500.000đồng Phạm Xuân Nghĩa đã giao nộp là tiền do N bán ma túy cho Nguyễn Văn H1 mà có cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • Đối với số tiền 1.300.000đồng thu giữ trên người của N, là tài sản hợp pháp của N, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho N nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu vàng, bên trong lắp sim số 0329.267.288 tạm giữ của H1, là tài sản hợp pháp của H1 sử dụng liên lạc mua ma túy với N nên cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng gold, bên trong lắp sim số 0344.946.789 tạm giữ của N, là tài sản hợp pháp của N sử dụng liên lạc bán ma túy cho H1 nên cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.

[13] Về án phí sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Xuân N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Văn H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  • Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Xuân N 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 14/3/2024).
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 13/3/2024).

2. Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: Phạt bị cáo Phạm Xuân N 10.000.000đồng (mười triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

  • Mẫu vật hoàn trả sau giám định của Phòng K - Công an tỉnh V gồm: A1 (viên nén màu đỏ) = 0,1400 gam; A1 (tinh thể trắng) = 0,1298 gam; A2 = 0,8156 gam; A3 = 0,0314 gam; A4 = 0,0000 gam; A5 = 0,0519 gam và A7 = 0,1267 gam; 03 vỏ túi nilon của mẫu ký hiệu A6; 03 vỏ túi nilon và 01 chiếc ống hút của mẫu ký hiệu A8 và 01 đĩa sứ màu trắng của mẫu ký hiệu A9.
  • 01 cuộn giấy bạc, 01 bình khò gas mini màu xanh, phía trên có đầu khò; 01 chai nhựa phía trên nắp có gắn ống hút màu trắng.
  • 01 quyển vở học sinh, bên trong có 01 mảnh giấy rời có chữ và các tờ giấy kẻ ngang có chữ viết.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 500.000đồng Phạm Xuân Nghĩa đã giao nộp tại cơ quan điều tra.

- Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu vàng của Nguyễn Văn H1, bên trong có lắp thẻ sim số 0329.267.288.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng gold của Phạm Xuân N, bên trong có lắp thẻ sim số 0344.946.789.

- Trả lại Phạm Xuân N số tiền 1.300.000đồng nhưng tạm giữa để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/9/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương)

4. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Buộc các bị cáo Phạm Xuân NNguyễn Văn H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Tam Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Dương;
  • - Công an huyện Tam Dương;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 71/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H, Phạm Xuân Ngh (Mua bán TP CMT)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger