TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 71/2024/HS-ST Ngày 29-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Công Bằng.
- - Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Trịnh Văn Mễn.
- - Bà Dư Thị Út .
- - Thư ký phiên tòa: Bà Hồng Thị Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hải Đăng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Minh C (tên gọi khác: K), sinh ngày 01/02/1997 tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: Số C, Khóm E, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 4/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh S, sinh năm: 1968 và bà Quách Ngọc Á, sinh năm: 1965; A, chị, em ruột: Có 02 người, lớn nhất bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1999; Vợ: chị Nguyễn Thị Ngọc N (tên thường gọi: L), sinh năm 1998 (chưa đăng ký kết hôn).
Tiền án: 02 lần: - Ngày 29/11/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự, chưa xóa án tích.
- Ngày 12/02/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tuyên phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, chưa xóa án tích.
1
Tiền sự: 02 lần: - Ngày 13/12/2019, bị Công an thành phố B, tỉnh Bạc Liêu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Ngày 25/9/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng.
Nhân thân: Ngày 14/3/2018, bị Công an P, thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị khởi tố bị can ngày 05/4/2024 và đang chấp hành Quyết định cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bạc Liêu. “có mặt”.
- Bị hại: Anh Đỗ Trọng K1, sinh năm 1980. Địa chỉ: ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Minh C không có nghề nghiệp và nghiện ma túy nên nảy sinh ý định đi lấy trộm tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 12 giờ, ngày 30/01/2024, bị cáo C chơi game bắn cá tại Khóm A, Phường G, thành phố B thì gặp Lê Vũ K2, sinh ngày 07/3/1997, nơi cư trú: Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Tại đây, K2 rủ bị cáo C đến nhà người thân tại Khóm A, Phường A, thành phố B để nhậu. Sau khi nhậu xong, anh Đỗ Trọng K1, sinh năm 1980, nơi cư trú: ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (cậu ruột của K2) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu cam, biển kiểm soát 94K1-398.33 chở K2 và bị cáo C về nhà nghỉ N1, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu thuê phòng ngủ. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, thấy anh K1 và K2 ngủ say, bị cáo C nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô của anh K1 đem bán. Thực hiện ý định trên, bị cáo C tìm lấy chìa khóa xe và đi ra khỏi phòng giả vờ hỏi chủ nhà nghỉ “có bán gì ăn không?”, rồi chạy xe về cất giấu tại nhà trọ của bị cáo C đang thuê, địa chỉ: ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu để tìm người tiêu thụ. Ngày 29/3/2024, Cơ quan điều tra Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiến hành mời bị cáo C làm việc và bị cáo C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng thời tự nguyện giao nộp xe mô tô đã lấy trộm.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 14/KL-HĐĐGTS, ngày 07/3/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B, kết luận:
2
“01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu cam, số khung RLHJF6300FZ064108, số máy JF63E1064138, gắn biển kiểm soát 94K1-398.33, đã qua sử dụng, mua vào khoảng năm 2016, với giá khoảng 25.000.000 đồng. Tại thời điểm ngày 30/01/2024, xe mô tô như trên có giá trị thành tiền còn lại là: 7.006.883 đồng (Bảy triệu không trăm lẻ sáu ngàn tám trăm tám mươi ba đồng).”
Tại bản Cáo trạng số 75/CT-VKS-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo Nguyễn Minh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Căn cứ khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C từ 09 tháng đến 01 năm tù.
- + Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo Nguyễn Minh C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Bị cáo Nguyễn Minh C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Sau khi nghe Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu trình bày luận tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
3
[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Minh C tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra; lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại Đỗ Trọng K1 về thời gian, địa điểm, đặc điểm tài sản bị chiếm đoạt; đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố và đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó, đủ căn cứ chứng minh:
Vì động cơ vụ lợi bất chính, khoảng 22 giờ ngày 30/01/2024, tại nhà nghỉ N1, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Nguyễn Minh C có hành vi lấy trộm 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu cam, biển kiểm soát 94K1-398.33 của anh Đỗ Trọng K1, với giá trị tài sản là 7.006.883 đồng (bảy triệu không trăm lẻ sáu ngàn tám trăm tám mươi ba đồng).
Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Nguyễn Minh C có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Minh C đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình, bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, có cha ruột là ông Nguyễn Minh S (tên gọi khác: Nguyễn Minh S1) là người có công với cách mạng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: bị hại anh Đỗ Trọng K1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu cam, biển kiểm soát 94K1-398.33 đã được trả lại cho chủ sở hữu là anh Đỗ Trọng K1 là phù hợp.
4
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố B về tội danh, hình phạt và các nội dung khác đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh C (tên gọi khác: K) phạm tội “Trộm cắp tài sản".
Căn cứ khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Nguyễn Minh C bị bắt đi thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo Nguyễn Minh C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Bùi Công Bằng |
5
6
Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 71/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp
