Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÍ LINH

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 71/2024/HS-ST

Ngày: 26-7-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH – TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Linh và ông Nguyễn Trường Ca

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Phú - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trí- Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại Phòng xử án - Trụ sở TAND thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024: Quyết định hoãn phiên tòa số 15/QĐ-HPT ngày 23/7/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị T, sinh năm 1991 tại Q- Bắc Ninh;

Nơi cư trú: Khu dân cư K, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do Trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị B, có chồng Bùi Đức T2 (Đã ly hôn), có hai con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Thế A, sinh ngày 24/02/2004. Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, thành phố C, tỉnh Hải Dương (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1980 và bà Lê Thị T3, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, thành phố C, tỉnh Hải Dương (là bố mẹ đẻ anh Nguyễn Thế A). Người đại diện theo ủy quyền của ông K, bà T3. Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, thành phố C, tỉnh Hải Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị T có giấy phép lái xe mô tô, hạng A1, số [...], do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 23/01/2014, có giá trị không thời hạn. Khoảng hơn 21 giờ ngày 07/4/2024 T điều khiển xe mô tô biển số 34C1- 346.13 đi trên Quốc lộ A hướng P đi S để mua xăng. Khoảng 21 giờ 35 phút cùng ngày T điều khiển xe mô tô đi đến khu vực K+450 Quốc lộ A, địa phận khu dân cư T, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Đây là đoạn đường thẳng, được trải bê tông nhựa, bằng phẳng, lòng đường rộng 13,5 m, giữa tim đường có vạch kẻ nét đôi liền màu vàng phân chia hai chiều xe chạy xuôi, ngược; trên mỗi phần đường được chia làm hai làn đường cùng chiều bằng vạch kẻ nét đứt màu trắng; khi đó T điều khiển xe đi ở làn đường bên phải theo chiều đi; khi gần đến trước Cửa hàng xăng dầu số A- Công ty Cổ phần X, thuộc khu dân cư T, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương ở bên trái đường H đi S, T quan sát phía trước thấy cách xe mô tô của T khoảng 70 m có xe mô tô biển số 34AB- 061.99, dung tích xi lanh 109,2 cm³ do anh Nguyễn Thế A, sinh ngày 24/02/2004, nơi cư trú thôn Đ, xã N, thành phố C, tỉnh Hải Dương (Không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định) điều khiển đi trên làn đường phía trong bên phải hướng Sao Đỏ đi P (xe của mẹ đẻ anh Thế A là bà Lê Thị T3, sinh năm 1984, nơi cư trú thôn Đ, xã N, thành phố C, tỉnh Hải Dương). Do phán đoán xe mô tô này còn cách xa nên T bật xi-nhan bên trái, bấm còi xe và điều khiển xe chuyển hướng sang phần đường bên trái hướng S đi P, khi đến gần mép đường phải để vào Cửa hàng xăng dầu số 10 mua xăng thì xảy ra va chạm giữa phần đuôi bên phải xe mô tô của T với phần đầu xe mô tô của anh Thế A. Sau va chạm: Xe mô tô do T điều khiển và người bị đổ ngã văng lên vỉa hè bên phải, xe mô tô đổ nằm nghiêng bên phải trên vỉa hè, đầu xe hướng tim đường, đuôi xe hướng Cửa hàng xăng dầu số A. Xe mô tô biển số 34AB- 061.99 do Thế A điều khiển và người bị đổ ngã văng về hướng P, xe mô tô bị đổ nghiêng sang bên phải (hướng S đi P), đầu xe mô tô quay hướng Phả Lại, cách mép đường phải 0,7 m, đuôi xe mô tô hướng Sao Đỏ, cách mép đường phải 01 m. Hậu quả anh Thế A bị chấn thương sọ não (vỡ xương hộp sọ), chết trên đường đi cấp cứu, xe mô tô biển số 34C1-346.13 bị hư hỏng thiệt hại 450.000 đồng và xe mô tô biển số 34AB-061.99 bị hư hỏng thiệt hại 1.090.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Thị T đã tự nguyện bồi thường 80.000.000 đồng cho gia đình bị hại. Bà Lê Thị T3, ông Nguyễn Văn K là bố, mẹ đẻ anh Thế A không có yêu cầu gì khác.

Chiếc xe mô tô biển số 34C1- 346.13 và xe mô tô biển số 34AB- 061.99 bị hư hỏng, tổng thiệt hại 1.540.000 đồng, chủ sở hữu hợp pháp không yêu cầu đề nghị gì.

Việc thu giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô biển số 34C1- 346.13 cho Nguyễn Thị T và trả lại chiếc xe mô tô biển số 34AB- 061.99 cho bà T3 và ông K.

Tại bản cáo trạng số 76/CT-VKS-CL ngày 01/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Thị T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xác định Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như bản cáo trạng đã nêu là đúng, bị cáo không thắc mắc khiếu nại gì.

Người đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp của bị hại xin vắng mặt có quan điểm xác nhận bị cáo đã bồi thường thỏa đáng cho gia đình bị hại nên gia đình không yêu cầu gì thêm chỉ đề nghị Hội đồng xét xử miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

Về điều luật: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 13 tháng tù cho hưởng án treo đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 26 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương nơi bị cáo thường trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Về hình phạt bổ sung: Xét không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thỏa đáng cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 80.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến gì nên không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số N0: 241145002489 mang tên Nguyễn Thị T do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 23/01/2014, có giá trị không thời hạn.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính một mình nuôi 02 con nhỏ, mong Tòa giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Hải Dương; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

[2] Về những chứng cứ xác định có tội và điều luật áp dụng đối với bị cáo: Xét thấy các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, như: lời khai của bị cáo, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận định giá tài sản, lời khai người làm chứng tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ 35 phút ngày 07/4/2024, tại Km 32+450, Quốc lộ A, địa phận khu dân cư T, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nguyễn Thị T (Có giấy phép lái xe mô tô theo quy định) điều khiển xe mô tô biển số 34C1-346.13 hướng P đi S chuyển hướng sang phần đường bên trái, không đảm bảo an toàn, thiếu chú ý quan sát nên xe của T đã va chạm với xe mô tô biển số 34AB-061.99, dung tích xi lanh 109,2 cm³ do anh Nguyễn Thế A (Không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định) điều khiển hướng S đi P. Hậu quả, anh Thế A chết trên đường đi cấp cứu do chấn thương sọ não (vỡ xương hộp sọ); hai phương tiện bị hư hỏng, tổng thiệt hại 1.540.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo về tội danh và điều luật tại bản cáo trạng đã viện dẫn là có căn cứ đúng pháp luật. Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn là do Nguyễn Thị T điều khiển xe mô tô không chấp hành chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ, tại nơi không được đi đè qua vạch kẻ đường (kẻ đường vạch kép liên tục màu vàng) vi phạm khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ và chuyển hướng không đảm bảo an toàn, thiếu chú ý quan sát, vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ, hậu quả làm chết 01 người. Trong vụ án này bị hại có một phần lỗi không có giấy phép lái xe khi điều khiển xe đã không đảm bảo tốc độ là nguyên nhân dẫn đến va chạm với bị cáo dẫn đến tai nạn giao thông.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng sức khỏe của những người tham gia giao thông trên đường phố mà trong vụ án này đã trực tiếp tước đi tính mạng của bị hại, không những thế hành vi đó còn góp phần tác động xấu đến trật tự văn minh giao thông đường phố. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mà mình đã gây ra.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi xảy ra tai nạn đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 80.000.000đồng, đại diện bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.

Về hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng, điều kiện hoàn cảnh hết sức khó khăn, một mình nuôi 02 con nhỏ. Hội đồng xét xử thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo vì bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo và ấn định một thời gian thử thách nhất định dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương, như vậy cũng đủ điều kiện để bị cáo tự cải tạo mình trở thành người công dân có ích cho xã hội, không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội phù hợp theo quy định tại khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, nuôi 02 con nhỏ đang tuổi ăn học, lỗi của bị cáo là lỗi vô ý nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 80.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô biển số 34C1- 346.13 cho Nguyễn Thị T và trả lại chiếc xe mô tô biển số 34AB- 061.99 cho bà T3 và ông K là phù hợp. Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số N0: 241145002489 mang tên Nguyễn Thị T do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 23/01/2014, có giá trị không thời hạn là của bị cáo do không áp dụng

hình phạt bổ sung cấm hành nghề đối với bị cáo nên cần trả lại bị cáo giấy phép này theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[10] Về những vấn đề khác: Hành vi anh Thế A tự ý lấy xe của bà Lê Thị T3, bà T3 không biết nên không đặt ra xử lý. Đối với anh Nguyễn Thế A điều khiển xe mô tô, loại xe có dung tích 109,2 cm³ không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định; khi thấy có tín hiệu xin đường của xe đi phía trước nhưng không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, không tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy đã vi phạm khoản 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ (Được hướng dẫn tại khoản 8 Điều 5 Thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ) nhưng do anh Thế A đã chết nên không đặt ra xử lý.

Vụ án không có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội phạm hoặc hành vi phạm tội mới nên Hội đồng xét xử không phân tích chứng cứ để xem xét việc khởi tố hay yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xét. Do Tòa án áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo nên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 50, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; điểm d khoản 1 Điều 125; điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 13 (mười ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 26 (hai mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương nơi bị cáo thường trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải thực hiện nghĩa vụ của người được hưởng án treo theo quy định tại Điều 87 Luật thi hành án hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về biện pháp ngăn chặn: Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Thị T kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  1. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  2. Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số N0: 241145002489 mang tên Nguyễn Thị T do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 23/01/2014, có giá trị không thời hạn (đã trả tại phiên tòa).
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND TP. Chí Linh;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp bị hại;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Chí Linh;
  • - CQTHAHS Công an TP. Chí Linh;
  • - Cơ quan hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát công an TP. Chí Linh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Chi cục THADS TP. Chí Linh;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quang Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH – TỈNH HẢI DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 71/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH – TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger