Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/DS-ST

Ngày: 26-7-2024

 

V/v yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Hưng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tý
  2. Bà Lê Thị Nhớ

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyễn Viết Cường - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Trong ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 102/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2024 về "Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 102/2024/QĐST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  • -Nguyên đơn: Bà Đỗ Thanh T, sinh năm 1985, trú tại: P.207 – E K, quận T, Tp Hà Nội. Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Bích D, sinh năm 1997 và bà Đặng Thị Kim T1, sinh năm 1997, cùng trú tại: D đường T, xã H, huyện H, Tp Đà Nẵng. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Lê Thanh L, sinh năm 1984, trú tại: D đường T, xã H, huyện H, Tp Đà Nẵng. Bà D, ông L có mặt.
  • -Bị đơn: Ông Bùi Trọng H, sinh năm 1985, trú tại: A.3107 - chung cư H, G H, phường T, quận T, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 19/3/2024, nguyên đơn bà Đỗ Thanh T trình bày: Xuất phát từ mối quan hệ quen biết trong hoạt động đầu tư kinh doanh, vào năm 2019 giữa tôi và ông Bùi Trọng H có thời gian cùng nhau hợp tác góp vốn chung mua lô đất dự án. Tuy nhiên, vì tồn tại một số vấn đề vướng mắc nên giữa tôi và ông H đã thống nhất rằng ông H có trách nhiệm hoàn trả lại cho tôi số tiền góp vốn mà ông H đã nhận từ tôi.

Theo đó, số tiền gốc mà ông H có nghĩa vụ phải trả cho tôi là 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng). Trên cơ sở thống nhất nêu trên, vào ngày 15/02/2023 ông H đã lập “Giấy xác nhận đã nhận tiền và kế hoạch hoàn trả" với nội dung xác nhận nợ và cam kết về thời gian hoàn trả tiền cho tôi thành 02 lần, cụ thể như sau:

  • + Lần 01: Trễ nhất là ngày 15/8/2023 (tức ngày 29/6 Âm lịch) trả 300.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm triệu đồng);
  • + Lần 02: Trễ nhất là ngày 03/02/2024 (tức ngày 24/12 Âm lịch) trả 700.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy trăm triệu đồng).

Mặc dù đã đưa ra nội dung cam kết về tiến trình trả nợ nhưng trên thực tế khi đến thời hạn thanh toán ông H đều không thực hiện. Tính đến thời điểm hiện tại, ông H không trả cho tôi bất kỳ khoản tiền nào cả, trong khi đó, bản thân tôi đã nhiều lần chủ động tìm gặp cũng như liên hệ qua điện thoại nhưng đều nhận được thái độ chây ỳ, hứa hẹn từ phía ông H. Không những thế, giai đoạn gần đây ông H còn bày tỏ thái độ thách thức và ngang nhiên chối bỏ nghĩa vụ trả trên mình.

Nay tôi nhận thấy ông Bùi Trọng H đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền và có ý định trốn tránh thực hiện nghĩa vụ của mình đối với tôi, do đó, tôi yêu cầu quý Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:

  1. Buộc ông Bùi Trọng H trả cho tôi số tiền gốc là 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng).
  2. Buộc ông Bùi Trọng H trả cho tôi số tiền lãi phát sinh do chậm trả thực hiện nghĩa vụ trả tiền, tạm tính từ ngày vi phạm đến ngày khởi kiện tính trên tổng số tiền 1.000.000.000 đồng với mức lãi suất 10%/năm, tương ứng với số tiền là: 25.095.890 đồng (Bằng chữ: Hai mươi lăm triệu, không trăm chín mươi lăm nghìn, tám trăm chín mươi đồng).

Tổng số tiền tạm tính mà tôi yêu cầu ông Bùi Trọng H phải trả là 1.025.095.890 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, không trăm hai mươi lăm triệu, không trăm chín mươi lăm nghìn, tám trăm chín mươi đồng).

Đồng thời, đề nghị Toà án tiếp tục tính tiền lãi chậm trả với mức lãi suất 10%/năm cho đến khi kết thúc vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích D giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thanh T, đề nghị Tòa án buộc ông Bùi Trọng H trả cho bà Đỗ Thanh T số tiền 1.061.534.247 đồng (Một tỷ, không trăm sáu mươi mốt triệu, năm trăm ba mươi bốn ngàn, hai trăm bốn mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 1.000.000.000 đồng, nợ lãi là 61.534.247 đồng (bao gồm: 28.356.164 đồng là tiền nợ lãi đối với số nợ gốc 300.000.000 đồng tính từ ngày 16/8/2023 đến ngày 26/7/2024 với lãi suất 10%/năm; 33.178.082 đồng là tiền nợ lãi đối với số nợ gốc 700.000.000 đồng tính từ ngày 04/02/2024 đến ngày 26/7/2024 với lãi suất 10%/năm)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Lê Thanh L trình bày: Tôi thống nhất ý kiến của bà Nguyễn Thị Bích D, đề nghị Tòa án buộc ông Bùi Trọng H trả cho bà Đỗ Thanh T số tiền 1.061.534.247 đồng (Một tỷ, không trăm sáu mươi mốt triệu, năm trăm ba mươi bốn ngàn, hai trăm bốn mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 1.000.000.000 đồng, nợ lãi là 61.534.247 đồng (bao gồm: 28.356.164 đồng là tiền nợ lãi đối với số nợ gốc 300.000.000 đồng tính từ ngày 16/8/2023 đến ngày 26/7/2024 với lãi suất 10%/năm; 33.178.082 đồng là tiền nợ lãi đối với số nợ gốc 700.000.000 đồng tính từ ngày 04/02/2024 đến ngày 26/7/2024 với lãi suất 10%/năm)

Bị đơn ông Bùi Trọng H vắng mặt tại phiên tòa. Tại bản tự khai và biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại cùng ngày 01/4/2024, ông Bùi Trong H1 trình bày: Ông Bùi Trọng H xác nhận về số tiền nợ đối với bà T nhưng ông H không đồng ý trả lãi chậm trả đối với số tiền trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Đỗ Thanh T yêu cầu Tòa án nhân dân quận Thanh Khê buộc ông Bùi Trọng H phải trả cho bà T số tiền 1.061.534.247 đồng (Một tỷ, không trăm sáu mươi mốt triệu, năm trăm ba mươi bốn ngàn, hai trăm bốn mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 1.000.000.000 đồng, nợ lãi là 61.534.247 đồng. Bị đơn ông Bùi Trọng H có nơi cư trú tại quận T, TP .. Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thụ lý và giải quyết yêu cầu khởi kiện về việc “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” là đúng với quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Phiên tòa hôm nay là lần thứ hai bị đơn ông Bùi Trọng H vắng mặt không có lý do chính đáng, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[2] Xét về nội dung khởi kiện:

Theo Giấy xác nhận đã nhận tiền và kế hoạch hoàn trả ngày 15/2/2023 do ông Bùi Trọng H ghi, có nội dung ông H xác nhận có nợ bà Đỗ Thanh T số tiền 1.000.000.000 đồng, đồng thời cam kết về thời gian hoàn trả tiền thành 02 lần, cụ thể như sau: Lần 01: Trễ nhất là ngày 15/8/2023 (tức ngày 29/6 Âm lịch) trả 300.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm triệu đồng); Lần 02: Trễ nhất là ngày 03/02/2024 (tức ngày 24/12 Âm lịch) trả 700.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy trăm triệu đồng). Xét thấy việc giao kết Hợp đồng nói trên là đúng về chủ thể, nội dung Hợp đồng phù hợp với Điều 463 Bộ luật Dân sự.

Sau khi vay nợ, khi đến hạn trả nợ bà T đã tìm gặp nhiều lần nhưng ông H không trả nợ mà cắt liên lạc, cố tình tránh mặt. Quá trình giải quyết vụ án, ông H xác nhận có nợ bà T số tiền 1.000.000.000 đồng nhưng không đồng ý trả lãi chậm trả đối với số tiền trên. Xét thấy đã quá thời hạn trả nợ nhưng ông H không trả cho bà T là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay trong Giấy xác nhận đã nhận tiền và kế hoạch hoàn trả ngày 15/2/2023, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Bùi Trọng H phải trả cho bà Đỗ Thanh T số tiền 1.061.534.247 đồng (Một tỷ, không trăm sáu mươi mốt triệu, năm trăm ba mươi bốn ngàn, hai trăm bốn mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 1.000.000.000 đồng, nợ lãi là 61.534.247 đồng (bao gồm: 28.356.164 đồng là tiền nợ lãi đối với số nợ gốc 300.000.000 đồng tính từ ngày 16/8/2023 đến ngày 26/7/2024 với lãi suất 10%/năm; 33.178.082 đồng là tiền nợ lãi đối với số nợ gốc 700.000.000 đồng tính từ ngày 04/02/2024 đến ngày 26/7/2024 với lãi suất 10%/năm) là phù hợp với Điều 466 Bộ luật Dân sự.

[3] Về án phí: Bị đơn ông Bùi Trọng H phải chịu 43.846.027 đồng (Bốn mươi ba triệu, tám trăm bốn mươi sáu ngàn, không trăm hai mươi bảy đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố Tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Do yêu cầu khởi kiện của bà T được chấp nhận nên bà T không chịu án phí, hoàn trả cho bà T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 21.376.438 đồng (Hai mươi mốt triệu, ba trăm bảy mươi sáu ngàn, bốn trăm ba mươi tám đồng) theo biên lai thu số 0001106 ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự q. Thanh Khê, Tp Đà Nẵng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự và Điều 26 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thanh T đối với bị đơn ông Bùi Trọng H về việc "Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền".

Tuyên xử:

  1. Buộc ông Bùi Trọng H trả cho bà Đỗ Thanh T số tiền 1.061.534.247 đồng (Một tỷ, không trăm sáu mươi mốt triệu, năm trăm ba mươi bốn ngàn, hai trăm bốn mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 1.000.000.000 đồng, nợ lãi là 61.534.247 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  1. Về án phí:

Bị đơn Bùi Trọng H phải chịu 43.846.027 đồng (Bốn mươi ba triệu, tám trăm bốn mươi sáu ngàn, không trăm hai mươi bảy đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho bà Đỗ Thanh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 21.376.438 đồng (Hai mươi mốt triệu, ba trăm bảy mươi sáu ngàn, bốn trăm ba mươi tám đồng) theo biên lai thu số 0001106 ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự q. Thanh Khê, Tp Đà Nẵng.

  1. Án xử công khai sơ thẩm, báo cho nguyên đơn có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết kết quả xét xử tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND quận Thanh Khê;
  • - Chi cục THADS Q. Thanh Khê;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Ngọc Hưng

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền

  • Số bản án: 71/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đòi nợ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger