TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 71/2024/HSST. Ngày 25-9-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Tịnh.
Bà Hoàng Thị Thanh
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thu Hương - Thư ký TAND huyện Đắk Mil.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên tòa: Bà Niê Đoan Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 25/9/2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 71/2024/TLST-HS ngày 05/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HS ngày 11/9/2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Y Đ, tên gọi khác: Không; Sinh năm 2000 tại tỉnh Đắk Nông. Nơi cư trú: Bon Bu Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Dân tộc: M' Nông; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Y B (sinh năm 1965 và bà H L (sinh năm 1982); có vợ là H O (sinh năm 2000) và 01 con sinh năm 2018.Tiền án: 02 tiền án. Tại bản án số 21/2019/HSST, ngày 19/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (chưa được xoá án tích); Tại bản án số 58/2021/HSST, ngày 25/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa được xóa án tích mà tái phạm).
Tiền sự: 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC, ngày 02/02/2024 của Công an xã thuận A1, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo chưa nộp phạt.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
- Họ và tên: Y B1, sinh năm 1989 tại tỉnh Đắk Nông. Nơi cư trú: Bon Bu Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: M' Nông; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Y T (sinh năm 1943) con bà H N (đã chết); Vợ là H Đ1 (sinh năm 1987) và 02 con (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014).
Tiền án: 01 tiền án. Tại bản án số 58/2023/HSST, ngày 20/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bị cáo chưa được xóa án tích).
Tiền sự: 01 tiền sự. Tại quyết định đưa vào cơ sở giáo dục số 108/QĐ-UB(NC), ngày 18/01/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ buộc Y B1 chấp hành 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành; Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 855/QĐ-CAH, ngày 17/5/2023 của Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông xử phạt Y Bhet 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa nộp phạt. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
- Họ và tên: Y N1, sinh năm 1990 tại tỉnh Đắk Nông. Nơi cư trú: Bon Bu Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Không; Giới tính: Nam; Dân tộc: M' Nông; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Y N2 và bà H T1 (đều đã chết).Vợ là H Đơn (đã chết) và 01 con sinh năm 2017. Tiền án: 01tiền án. Tại bản án số 21/2019/HSST, ngày 19/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” (bị cáo chưa được xóa án tích).
Tiền sự: 01 tiền sự. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2161/QĐ-XPHC, ngày 11/8/2023 của Công an huyện Đ phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa nộp phạt. Bị cáo bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
- Bị hại:
- Chị H P, sinh năm 2004 – Có mặt.
Địa chỉ: Bon Bu Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Những người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng:
- Anh Y Gia V, sinh năm 2014 – Vắng mặt.
Địa chỉ: Bon Bu Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Người đại diện theo pháp luật của anh Y Gia V: Ông Y B2, sinh năm 1987 – Vắng mặt.
Địa chỉ: Bon Bu Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Ông Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1979 – Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Chị H O1, sinh năm 2000 – Vắng mặt.
Địa chỉ: Bon Bu Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Chị H N3, sinh năm 1992 – Có mặt.
Địa chỉ: Bon Bu Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Người tham gia tố tụng hỗ trợ tổ chức phiên toà tại điểm cầu thành phần:
- Người tiến hành tố tụng:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Văn T3– Kiểm sát viên.
- Thư ký phiên tòa tham gia tại điểm cầu thành phần: Bà Nguyễn Thị Vân A – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil.
- Người tham gia tố tụng khác:
Cán bộ cơ sở nhà tạm giữ tại điểm cầu thành phần: Ông Phan Huy H– Cán bộ.
Chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ tại điểm cầu thành phần: Ông Lê Hữu T4.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng chiều ngày 21/6/2024, Y Đ và Y Nginh đến rủ Y B1 đi lên rẫy của Y Đ tại thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để uống rượu thì Y B1 đồng ý và điều khiển xe mô tô (xe không gắn biển số, của Y B1) chở Y Đ, Y N1 và Y Gia V đi đến rẫy của Y Đ. Trong lúc uống rượu, Y Đ rủ Y N1 và Y B1 tìm xe máy của người dân để trộm cắp thì Y nginh và Y B1 đồng ý, Y B1 nói Y Đ và Y N đi trộm cắp xe máy đưa cho Y B1 đi bán hoặc đi cầm cố.
Khoảng 08 giờ ngày 22/6/2024, Y B1 nói với Y Đ và Y là Y B1 đi bán bơ, hẹn sau khi Y Đ và Y N trộm cắp xe máy xong thì gặp nhau tại khu vực Eo gió, thôn T, xã T nhưng sau đó Y B1 chở Y Gia V đi về nhà trước. Lúc này Y Đ và Y N1 cùng nhau đi bộ đến rẫy của chị Bùi Kim D tại thôn T, xã T, huyện Đ phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen - trắng, biển số 47L1 - 071.53 của chị H P có cắm sẵn chìa khóa trên xe. Y Nginh đến dắt xe mô tô 47L1-071.53 còn Y Đ phụ đẩy phía sau ra đến ngoài đường Y nổ máy điều khiển xe chở Y N1 về nhà Y. Do sợ người nhà phát hiện nên Y B1 nói Y Đ và Y N1 mang xe mô tô biển số 47L1-071.53 đi cất giấu, vì vậy Y Đ điều khiển xe chở y N1 đi đến khu vực rẫy của người dân tại đập nước bon Bu Đ, xã T, huyện Đ cất giấu rồi đi bộ về nói cho Y B1 biết nơi cất giấu. Đến khoảng 16 giờ ngày 23/6/2024, để tránh sự phát hiện của chủ xe, Y Đ, Y B1 và Y NI đi đến nơi cất giấu xe mô tô biển số 47L1-071.53 cùng nhau tháo biển số, dàn áo và mặt nạ xe cất giấu lại. Sau đó, Y Đ điều khiển xe mô tô biển số 47L1-071.53 chở Y B1 và Y N1 đi tìm nơi tiêu thụ nhưng không được nên về nhà ngủ. Đến sáng ngày 24/6/2024, Y Đ điều khiển xe mô tô biển số 47L1-071.53 chở Y N1 đi cất giấu rẫy của người dân tại khu vực N xã T.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐGTS, ngày 28/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen - trắng, biển số 47L1-071.53 có giá trị là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
Bản cáo trạng số: 69/CT-VKS(ĐM) ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố các bị cáo Y Đ về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự; Y B1 và Y N1 về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Y Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của BLHS; Truy tố các bị cáoY B1 và Y N1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện VKS đề nghị HĐXX và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố các bị cáo Y Đ, Y B1, Y N1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS xử phạt bị cáo Y Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS-
Xử phạt bị cáo Y B1 và bị cáo Y N1 mỗi bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen - trắng, số khung 5C641005623; 01 biển số 47L1-071.53; 01 bộ dàn áo, mặt nạ xe cho chị H - Pháo là chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với chìa khóa xe mô tô biển số 47L1-071.53, 01 khóa cờ lê, 01 tuốc nơ vít Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được nên không đặt ra vấn đề xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường.
Tại phiên tòa các bị cáo Y B1, Y N1 không tranh luận gì mà chỉ xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo Y Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của bị cáo Y Đ tại phiên toà là phù hợp với lời khai của các bị cáo Y B1 và Y N1 trong quá trình điều tra và tại phiên toà; phù hợp với lời khai của người làm chứng cháu Y Gia V; phù hợp với các chứng cứ đã thu thập được có lưu trong hồ sơ vụ án. Vào tối ngày 21/6/2024, tại chòi rẫy của bị cáo Y Đ, trong khi ngồi uống rượu, giữa các bị cáo bàn bạc với nhau về việc bị cáo Y Đ và bị cáo Y N1 đi lấy trộm xe máy mang về cho bị cáo Y B1 tiêu thụ. Khoảng 08 giờ ngày 22/6/2024, tại thôn T, xã T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Y Đ, Y N1 đã lén lút trộm cắp của chị H Pháo xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen trắng, biển số 47L1 - 071.53 có giá trị là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Bị cáo Y Đ đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Hành vi của bị cáo Y Đông đ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tính tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của BLHS; hành vi của các bị cáo Y N1, Y B1 đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố các bị cáo Y Đ về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự; các bị cáo Y B1 và Y N1 về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Khoản 1, điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
g) Tái phạm nguy hiểm.”
[3] Xét tính chất vụ án do các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, làm mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo biết được việc xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng với ý thức coi thường pháp luật, lười lao động, để có tiền tiêu xài phục vụ cho lợi ích cá nhân nên các bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp của chị H Pháo 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen - trắng, biển số 47L1 - 071.53, có giá trị là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Y B1 và Y N1 phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Y Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Y B1 và Y N1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Y Đ không thừa nhận hành vi phạm tội, tuy nhiên tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo đã nhận tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
[6] Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu.
Bị cáo Y Đ 01 lần bị Toà án xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”; 01 lần về tội “Trộm cắp tài sản”; 01 lần bị xử phạt hành chính với mức phạt 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy;
Bị cáo Y B1 01 lần bị Toà án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”; 01 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc về hành vi “Trộm cắp tài sản”; 01 lần bị xử phạt hành chính với mức phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”;
Bị cáo Y N1 01 lần bị Toà án xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”; 01 lần bị xử phạt hành chính với mức phạt 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản.
Trong vụ án này, có nhiều bị cáo tham gia, tính chất mức độ phạm tội của các bị cáo khác nhau nên cần có sự phân hoá vai trò của từng bị cáo để có mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, thể hiện sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật.
Bị cáo Y Đ là người có vai trò chính, cùng tham gia khởi xướng và bàn bạc với bị cáo Y N1 về việc đi trộm cắp xe máy, bị cáo cũng là người trực tiếp đi cùng bị cáo Y N1 để tìm lấy xe máy, sau khi lấy được bị cáo tham gia tháo dàn vỏ xe, mặt nạ, biển kiểm soát của xe để dễ tiêu thụ và tránh chủ xe không nhận dạng ra được. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, HĐXX cần xử phạt bị cáo mức hình phạt cao nhất so với mức hình phạt của các bị cáo khác mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
Bị cáo Y N1 là người cùng tham gia khởi xướng việc đi trộm cắp xe máy cùng với bị cáo Y Đ, bị cáo là người trực tiếp cùng Y Đ đi tìm xe để trộm cắp, sau khi trộm cắp được xe máy, bị cáo cùng tham gia tháo dàn vỏ xe, mặt nạ, biển kiểm soát của xe để dễ tiêu thụ và tránh chủ xe không nhận dạng ra được. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần xử phạt bị cáo Y N1 mức hình phạt thấp hơn bị cáo Y Đ nhưng cao hơn mức hình phạt của bị cáo Y B1.
Bị cáo Y B1 có vai trò thấp nhất trong vụ án này. Bị cáo không trực tiếp lấy trộm xe máy, bị cáo chỉ hứa sau khi Y Đ và Y N lấy được xe thì bị cáo sẽ đi tiêu thụ.Sau khi bị cáo Y Đ, Y N1 lấy trộm được xe máy, bị cáo cùng các bị cáo khác tham gia tháo dàn vỏ xe nhắm tránh sự phát hiện của chủ sở hữu. Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần xử phạt bị cáo Y B1 mức hình phạt thấp nhất.
[7] Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của các bị cáo thể hiện, các bị cáo không có tài sản riêng. Do đó, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về vật chứng của vụ án: Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen - trắng, số khung 5C641005623; 01 biển số 47L1-071.53; 01 bộ dàn áo, mặt nạ xe cho chị H - Pháo là chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
[9] Đối với chìa khóa xe mô tô biển số 47L1-071.53, 01 khóa cờ lê, 01 tuốc nơ vít Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được nên không đặt ra vấn đề xử lý.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên HĐXX không xem xét.
[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Y Đ, Y B1, Y N1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS
Xử phạt: Bị cáo Y Đ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/7/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS:
- - Xử phạt: Bị cáo Y N1 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/6/2024.
- - Xử phạt: Bị cáo Y B1 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/6/2024.
- Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen - trắng, số khung 5C641005623; 01 biển số 47L1-071.53; 01 bộ dàn áo, mặt nạ xe cho chị H – Pháo.
- Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Y Đ, Y N1, Y B1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ toạ phiên toà (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Hải Âu |
Bản án số 71/2024/HSST ngày 25/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 71/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
