|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 71/2024/HS-ST
Ngày 25 tháng 7 năm 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Quang Thái - Phó Hiệu trưởng Trường THCS Định Mỹ, Thoại Sơn, An Giang;
- Ông Lý Đạt Thành - Bí thư Đoàn Trường Trung học phổ thông Nguyễn Khuyến, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Phương Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Lưu Đạo T (T), sinh ngày 17/12/2002. Nơi cư trú: ấp H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật Giáo H; quốc tịch: Việt Nam; con Trịnh Đạo Đ, sinh năm 1971 (đã chết) và bà Lưu Thị Ngọc P, sinh năm 1972; anh, chị em có 03 người, bị cáo là người thứ hai; bị cáo chưa có vợ, con.
- Mai Văn D, sinh ngày 14/02/2001. Nơi cư trú: ấp Đ, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Ngọc Đ1, sinh năm 1977 và bà Phan Thị H, sinh năm 1976; anh, chị, em có 02 người, bị cáo là người thứ hai; bị cáo chưa có vợ, con.
- Nguyễn Hoài T1, sinh ngày 27/12/2003. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật Giáo H; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoài T2, sinh năm 1977 và bà Lê Thị Ngọc H1, sinh năm 1981; anh, chị, em có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; bị cáo chưa có vợ, con.
- Lý Quốc K (T3), sinh ngày 16/02/2007. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Hữu T4, sinh năm 1985 và bà Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm 1987; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/12/2023 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/10/2023 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/10/2023 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lý Quốc K: Bà Đỗ Thị P1, sinh năm 1956. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
Bị hại: Phạm Minh T5, sinh ngày 05/3/2007. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người đại diện theo pháp luật của Phạm Minh T5: Ông Nguyễn Hữu P2, sinh năm 1971. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Huỳnh Công Hữu H2, sinh ngày 18/12/2007. Nơi cư trú: khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
- Phạm Văn K1, sinh ngày 23/8/2007. Nơi cư trú: ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
- Anh Lý Hữu T4, sinh năm 1985. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Chị Lê Thị Ngọc H1, sinh năm 1981. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người đại diện theo pháp luật của Huỳnh Công Hữu H3: Anh Trần Tấn P3 - Phó Bí thư Đoàn thanh niên thị trấn N, huyện T (có mặt).
Người đại diện theo pháp luật của Phạm Văn K1: Anh Phạm Văn H4, sinh năm 1988. Nơi cư trú: ấp Đ, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người làm chứng:
- Nguyễn Ngọc D1, sinh năm 2005 (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Phước T6, sinh năm 1981 (vắng mặt).
- Ông Bùi Văn Đ2, sinh năm 1973 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Thanh H5, sinh năm 1948 (vắng mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Lý Quốc K: Ông Lương Minh H6 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm T8 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ ngày 02/6/2023, do mâu thuẫn trước đó Lưu Đạo T, Nguyễn Hoài T1, Mai Văn D, Phạm Văn K1, Huỳnh Công Hữu H3 rủ Lý Quốc K mang theo hung khí (dao tự chế) đến quán nước “T" thuộc ấp T, xã V, huyện T tìm Huỳnh Văn L để giải quyết mâu thuẫn; K đồng ý và cùng cả nhóm đến nơi ở của Nguyễn Ngọc D1 (H) tại ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang lấy hung khí gửi D1 trước đó. Đến nơi, T, H3, T1 vào trong lấy mỗi người 01 cây dao tự chế dài khoảng 60cm, T lấy thêm 01 cây dao tự chế dài khoảng 75cm đưa cho D. Xong, T điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở D, K điều khiển xe mô tô biển số 67M1-478.48 chở T1, K1 điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở H3 đến quán nước “T”, nhưng không gặp L. Tại đây, H3 kể lại cho cả nhóm nghe việc trên đường đi bị Nguyễn Văn T7, Phạm Minh T5 dùng lời lẽ thô tục chửi H3 nên cả nhóm thống nhất quay lại tìm đánh T7, T5 dằn mặt.
Nhóm H3 điều khiển xe mô tô đến khu vực cầu K thuộc ấp T, xã V, huyện T thấy T5 điều khiển xe mô tô biển số 67AB-034.21 một mình lưu thông hướng ngược lại, H3 hô to cho cả nhóm biết “Nó kìa, nó kìa” thì T chở D, K1 chở H3 rẽ sang lề trái chặn xe của T5. Tây nắm giữ tay T5, D ngồi phía sau xe hai tay cầm dao tự chế chém về phía T5 nhiều nhát bằng sóng dao trúng mũ bảo hiểm và lưng của T5; H3 cầm dao tự chế chém nhiều nhát trúng vào vai, tay trái của T5. Bị chém, T5 bỏ chạy H3 cầm dao đuổi theo chém vào lưng T5 khoảng 7 - 8 nhát. Thấy đánh nhau, anh Bùi Văn Đ2, Nguyễn Thanh H5 cầm ghế can ngăn thì K1 giật, ném ghế xuống đường, T1 và D chém dọa vào ghế. Xong, cả nhóm lên xe chạy về hướng cầu B, T gom hung khí đem về nơi ở của D1 cất giấu, sau đó đã được Cơ quan điều tra Công an huyện T, thành phố Cần Thơ thu giữ trong vụ án khác. Riêng, T5 được người dân đưa đến Trung tâm y tế xã Đ sơ cứu vết thương, cùng ngày T5 đến Công an xã V trình báo và có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Vật chứng thu giữ: 01 mũ bảo hiểm, loại nón sơn, màu trắng; 01 áo thun, ngắn tay, màu đen-trắng; 01 quần ngắn Kaki, màu đen; 01 áo thun, ngắn tay, màu đen, mặt trước có chữ “out of this world”; 01 quần sọt Jean ngắn, màu xám; 01 áo thun dài tay, màu xanh, mặt trước có logo “Trường trung học cơ sở V”, mặt sau có chữ “Trường Trung Học Cơ Sở V”; 01 quần ngắn thun, màu xanh, sọc cam, mặt trước có số 21; 01 điện thoại di động Iphone 8, màu đỏ; 02 ghế tựa nhựa, màu xanh-trắng, bị gãy vỡ; 01 xe mô tô biển số 67M1-378.48; 02 đĩa DVD lưu trữ 03 đoạn video tại hiện trường.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 410/23/KLTTCT-TTPY ngày 03/7/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y đối với Phạm Minh T5, sinh năm 2007, xác định:
- Các kết quả chính: Sây sát da dạng thẳng vụng cổ sau không tồn tại: tỷ lệ 00%. Sây sát da dạng thẳng không liên tục vai phải để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (04 x 0,1)cm: tỷ lệ là 0,5%. Sây sát da dạng thẳng bả vai phải để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (6,5 x 0,2)cm: tỷ lệ là 0,5%. Sây sát da dạng thẳng lưng phải để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (06 x 0,2)cm: tỷ lệ là 0,5%. Sây sát da dạng thẳng vai trái để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (6,5 x 0,2)cm: tỷ lệ là 0,5%. Sây sát da để lại sẹo bả vai trái dạng tròn kích thước (0,3 x 0,2)cm: tỷ lệ là 01%. Sây sát da dạng thẳng để lại sẹo lưng trái cạnh cột sống kích thước (4,5 x 0,3)cm: tỷ lệ là 02%. Sây sát da dạng thẳng nằm ngang cột sống thắt lưng để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (04 x 01)cm: tỷ lệ là 0,5%. Sẹo mặt sau trong khuỷu trái kích thước (5,2 x 0,3)cm, sẹo lõm, hồng, bờ sắc gọn, hai góc nhọn, có khâu. Gây mẻ lồi cầu trong xương cánh tay trái không ảnh hưởng đến khớp khuỷu, điều trị bảo tồn: tỷ lệ là 06%. Sẹo dạng vát mặt lòng phía ngón V bàn tay trái kích thước (4,5 x 0,1)cm, sẹo lõm, hồng, bờ sắc gọn, có khâu: tỷ lệ là 01%. Sây sát da dạng thẳng không liên tục mặt trước 1/3 trên cánh tay phải để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (6,5 x 0,2)cm: tỷ lệ là 0,5%. Vết ửng đỏ mặt sau 1/3 trên cánh tay phải không tồn tại tỷ lệ là 00%.
Tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 12%. Kết luận khác: Thương tích do vật sắc gây nên.
Các ngày 10/10/2023, 22/02/2024, Lưu Đạo T, Mai Văn D, Nguyễn Hoài T1 và Lý Quốc K bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T khởi tố để điều tra.
Tại Cáo trạng số 40/CT-VKSTS-HS ngày 16/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Lưu Đạo T (T), Mai Văn D, Nguyễn Hoài T1 và Lý Quốc K (T3) về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo Lưu Đạo T, Mai Văn D, Nguyễn Hoài T1 và Lý Quốc K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Đạo T, Mai Văn D, Nguyễn Hoài T1 và Lý Quốc K vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại Phạm Minh T5 và đại diện theo pháp luật của bị hại ông Nguyễn Hữu P2 nêu quan điểm: Về hình phạt xin giảm nhẹ cho các bị cáo; về phần trách nhiệm dân sự đồng ý nhận số tiền 7.016.000 đồng gia đình các bị cáo Nguyễn Hoài T1, Mai Văn D, Lý Quốc K bồi thường.
Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với các bị cáo giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lưu Đạo T (T) từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Mai Văn D từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài T1 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 10 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 58, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lý Quốc K từ 09 tháng đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận của các bị cáo Nguyễn Hoài T1, Mai Văn D, Lý Quốc K với bị hại Phạm Minh T5 về việc các bị cáo T1, D, K bồi thường cho bị hại Phạm Minh T5 số tiền 7.016.000 đồng.
Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 xử lý theo quy định pháp luật.
Trợ giúp viên pháp lý ông Lương Minh H6 bào chữa cho bị cáo Lý Quốc K đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn. Do bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và hiện đang còn đi học nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để tiếp tục đi học, trở thành công dân giúp ích cho gia đình.
Bị cáo Lý Quốc K nhất trí với bản luận cứ bào chữa nêu trên của người bào chữa, không bào chữa bổ sung gì thêm. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Bị cáo Lưu Đạo T (T), Mai Văn D, Nguyễn Hoài T1 không tranh luận với kiểm sát viên. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Bị hại và đại diện hợp pháp cho bị hại không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo; bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sau khi vụ án xảy ra; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người bị hại về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Ngày 02/6/2023, Lưu Đạo T, Mai Văn D, Nguyễn Hoài T1, Lý Quốc K đã vô cớ dùng dao tự chế là hung khí nguy hiểm chém nhiều nhát vào tay, lưng, vào người Phạm Minh T5 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là 12%.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Lưu Đạo T, Mai Văn D, Nguyễn Hoài T1, Lý Quốc K đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm gây tổn hại cho sức khỏe người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt tù từ 02 đến 06 năm.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của con người, đến quyền tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ, do vậy cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc để răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo xuất thân từ thành phần lao động, trước khi phạm tội là những người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự. Nhưng hành vi của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý; động cơ, mục đích của tội phạm là dùng hung khí nguy hiểm nhằm gây thương tích cho bị hại; trong khi giữa bị cáo với bị hại là bạn, không có mâu thuẫn gì với nhau.
Đây là vụ án đồng phạm, nhưng thuộc trường hợp giản đơn, tuy nhiên cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp.
Trước hết đối với bị cáo Mai Văn D là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết phân biệt việc làm đúng, sai. Sau khi nghe Huỳnh Công H7 H3 kể lại việc trên đường đi bị Nguyễn Văn T7, Phạm Minh T5 dùng lời lẽ thô tục chửi, D đồng ý với cả nhóm quay lại tìm đánh T7, T5 dằn mặt. Bị cáo là người trực tiếp dùng dao tự chế chém nhiều nhát bằng sóng dao trúng mũ bảo hiểm và lưng bị hại gây thương tích là 12%. Hành vi bị cáo thể hiện bản tính xem thường pháp luật. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với thương tích mình gây ra và còn phải chịu chung hậu quả về tổng thương tích các bị cáo và Huỳnh Công H7 H3 gây ra cho bị hại T5, nên cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Đối với bị cáo Lưu Đạo T khi nghe Huỳnh Công Hữu H3 kể lại vụ việc trên đường đi bị Nguyễn Văn T7, Phạm Minh T5 dùng lời lẽ thô tục chửi, bị cáo không tìm cách khuyên ngăn mà đồng ý ngay. Khi chặn xe của bị hại T5, bị cáo T nắm giữ tay T5 cho Dương chém; tuy không trực tiếp gây thương tích cho T5 nhưng bị cáo có vai trò giúp sức tích cực cho các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc và cao hơn các bị cáo D, T1 và K để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình.
Đối với các bị cáo Nguyễn Hoài T1, Lý Quốc K khi cả nhóm bàn bạc quay lại tìm T7, T5 đánh trả thù thì các bị cáo đồng ý ngay và giúp sức tích cực cho các bị cáo khác chém T5. Trong đó, bị cáo T1 cầm hung khí chém dọa vào ghế khi người dân can ngăn, bị cáo K đậu xe chờ sẵn, sau khi gây án xong chở bị cáo T1 về. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, giúp sức cùng bị cáo D xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Tuy nhiên khi phạm tội, bị cáo Lý Quốc K chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế, nên cần áp dụng chính sách nhân đạo đối với bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi phạm tội, bị cáo K chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật hạn chế. Sau khi vụ án xảy ra bị cáo T1 đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 3.016.000 đồng; bị cáo D tác động gia đình bồi thường bị hại số tiền 3.000.000 đồng, bị cáo Kiệt tác động gia đình bồi thường bị hại số tiền 1.000.000 đồng và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[5] Đối với Phạm Văn K1 sinh ngày 23/8/2007, Huỳnh Công Hữu H3 sinh ngày 18/12/2007, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý gây thương tích”. Nguyễn Ngọc D1 không biết, không bàn bạc tham gia gây thương tích cho T5 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không truy cứu trách nhiệm với vai trò đồng phạm là có căn cứ.
Nguyễn Hoài T1, Mai Văn D có hành vi dùng dao hăm dọa anh Nguyễn Thanh H5, anh Bùi Văn Đ2 tại ấp T, xã V là vi phạm pháp luật nhưng xét thấy tính chất, mức độ ít nghiêm trọng, sự việc xảy ra trên đoạn đường vắng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không truy cứu trách nhiệm hình sự Tây, D, T1 và K về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ.
Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Lý Quốc K khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật hạn chế, vai trò bị cáo trong vụ án không lớn, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, theo xác nhận của Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông V, huyện T thì Lý Quốc K hiện là học sinh lớp 11A7 năm học 2023 - 2024 đang theo học tại trường. Để tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục đi học, trở thành công dân có ích cho xã hội, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bồi thường số tiền 3.016.000 đồng, tuy nhiên sau khi vụ án xảy ra gia đình bị cáo T1 bồi thường 3.016.000 đồng, gia đình bị cáo D bồi thường 3.000.000 đồng, gia đình bị cáo K bồi thường 1.000.000 đồng và tại phiên tòa bị hại cũng đồng ý nhận các số tiền trên để trả chi phí điều trị. Xét sự thỏa thuận nêu trên là tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại phiên tòa, đại diện gia đình các bị cáo T1, D, K không yêu cầu các bị cáo này và bị cáo T trả lại tiền đã bồi thường thay cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô biển số 67M1-378.48. Xét thấy bị cáo K sử dụng xe trên làm phương tiện tham gia gây thương tích cho bị hại nhưng anh T4 không biết nên trả lại cho anh T4. Đối với các vật chứng có liên quan vụ án nhưng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[8] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lưu Đạo T (T), Mai Văn D, Nguyễn Hoài T1 và Lý Quốc K (T3) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lưu Đạo T (T) 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16 tháng 12 năm 2023.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Mai Văn D 02 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 21 tháng 10 năm 2023.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài T1 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 21 tháng 10 năm 2023.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 54, Điều 58, Điều 65, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lý Quốc K (T3) 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm kể từ ngày tuyên án (25/7/2024). Giao bị cáo Lý Quốc K (T3) cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo K thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, gia đình các bị cáo Nguyễn Hoài T1, Mai Văn D, Lý Quốc K bồi thường chi phí điều trị cho bị hại Phạm Minh T5 số tiền 7.016.000 đồng (đã bồi thường xong).
Tiếp tục tạm giữ số tiền 7.016.000 đồng gia đình các bị cáo Nguyễn Hoài T1, Mai Văn D, Lý Quốc K đã nộp để đảm bảo thi hành án (trong đó số 1.000.000 đồng gia đình bị cáo Lý Quốc K đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005687 ngày 26 tháng 4 năm 2024, số tiền 3.000.000 đồng gia đình bị cáo Mai Văn D đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005782 ngày 12 tháng 7 năm 2024, riêng số tiền 3.016.000 đồng gia đình bị cáo T1 đã nộp hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 27/QĐ-VKSTS, ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trả lại cho anh Lý Hữu T4 01 (một) xe mô tô biển số 67M1-378.48, nhãn hiệu Honda, loại: alpha, màu trắng đen, số khung: 1254FY270397, số máy: HC12E7270425. Trả lại cho bị cáo Mai Văn D 01 (một) điện thoại di động Iphone 8, màu đỏ (tất cả đã qua sử dụng).
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mũ bảo hiểm, loại nón sơn, màu trắng; 01 (một) áo thun, ngắn tay, màu đen-trắng; 01 (một) quần ngắn Kaki, màu đen; 01 (một) áo thun, ngắn tay, màu đen, mặt trước có chữ “out of this world”; 01 (một) quần sọt Jean ngắn, màu xám; 01 (một) áo thun dài tay, màu xanh, mặt trước có lôgô “Trường Trung học Cơ sở V”, mặt sau có chữ “Trường Trung Học Cơ Sở V”; 01 (một) quần đùi thun, màu xanh, sọc cam, mặt trước có số 21; 02 (hai) ghế tựa nhựa, màu xanh-trắng, bị gãy vỡ (tất cả đã qua sử dụng). (Các vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 27/QĐ-VKSTS, ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn)
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lưu Đạo T (T), Mai Văn D, Nguyễn Hoài T1 và Lý Quốc K (T3) mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo; bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niệm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo K)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triều |
Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 71/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lưu Đạo Tây và đồng phạm phạm tội Cố ý gây thương tích
