|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 71/2023/HS-ST Ngày: 24-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Thanh Hưng;
Ông Nguyễn Văn Hòa;
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng tham gia phiên tòa: Ông Trần Duy Tôn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2023/QĐXXST–HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu T, sinh năm 1995 tại Nghệ An. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm D, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; trình độ văn hóa: 8/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Hữu H (đã chết) và bà Nguyễn Thị C; vợ là Lê Thị L; tiền án: không; tiền sự: ngày 02/7/2022, bị Công an phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị bắt tạm giữ từ ngày 20/02/2023 và tạm giam cho đến nay; có mặt.
Bị hại: Bà Nguyễn Anh Đ, sinh năm 1959; địa chỉ: khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 00 ngày 20/02/2023, Nguyễn Hữu T được người thanh niên tên H1 (không rõ họ tên, địa chỉ) điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki, loại raider (không rõ biển số) chở T từ thành phố T, tỉnh Bình Dương lên huyện B, tỉnh Bình Dương để đi chơi. Khi đi đến của hàng tạp hóa tên P của bà Nguyễn Anh Đ ở khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương thì T vào mua 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long và 01 hột quẹt táo bấm hiệu Vạn Xuân. Lúc này T thấy bà Đ có đeo 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng kèm mặt dây chuyền bằng kim loại, màu vàng hột tròn màu tím, nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trên để đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Để thực hiện ý định, khi bà Đ đưa 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long và 01 hột quẹt táo bấm hiệu Vạn Xuân thì Trưng nhanh chóng giật sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng trên cổ bà Đ và 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, 01 hột quẹt táo bấm hiệu Vạn Xuân rồi nhanh chóng tẩu thoát. Lúc này bà Đào tri h cùng người dân vây bắt Trưng, còn đối tượng tên H1 (không rõ họ tên, địa chỉ) đã điều khiển xe mô tô bỏ trốn. Cùng ngày, bà Đ đã trình báo cơ quan Công an thị trấn L, huyện B, sau khi tiếp nhận tin báo Công an thị trấn L đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ: 01 sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng; 01 mặt dây chuyền bằng kim loại, màu vàng hột tròn màu tím; 01 hột quẹt hiệu Vạn Xuân; 01 gói thuốc lá hiệu Thăng Long; 01 điện thoại di động Oppo F9 Pro màu đỏ, IMEI 1: 866376047533135, IMEI 2: 866376047533127 và 01 con dao bấm bằng kim loại của Nguyễn Hữu T. Cùng ngày Công an thị trấn L đã chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để thụ lý theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận giám định số 1794/KL-KTHS ngày 22/03/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng bị đứt, khối lượng: 13,1407 gam được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (Au): 58,75%, B (A): 22,66%, Đ1 (Cu): 18,99%; 01 mặt dây chuyền đính đá tím bằng kim loại màu vàng, khối lượng: 5,4262 gam được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (Au): 58,75%, B (A): 19,87%, Đ1 (Cu): 19,35%.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 21/KL-HĐĐGTS ngày 05/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện B kết luận: 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long trị giá 15,000 đồng; 01 hột quẹt táo bấm V (bật lửa) trị giá 2.500 đồng; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng bị đứt, khối lượng: 13,1407 gam được niêm phong giám định có thành phần chủ yếu là V (Au): 58,75%, B (A): 22,66%, Đ1 (Cu) 18,99% trị giá là 10.320.000 đồng; 01 mặt dây chuyền đính đá tím bằng kim loại màu vàng, khối lượng: 5,4262 gam được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (Au): 58,75%, B (A): 19,87%, Đ1 (Cu): 19,35% trị giá là 1.400.000 đồng. Tổng giá trị tài sản được định giá là 11.737.500 đồng.
Đối với thanh niên tên H1 (không rõ họ tên, địa chỉ) chở T đi đến huyện B, hiện Cơ quan CSĐT Công an huyện B đang xác minh làm rõ khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Đối với 01 sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng và 01 mặt dây chuyền bằng kim loại, màu vàng hột tròn màu tím là tài sản của bà Nguyễn Anh Đ. Ngày 10/3/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện B đã trả lại tài sản này cho bà Nguyễn Anh Đ
Đối với 01 điện thoại di động Oppo F9 Pro màu đỏ, IMEI 1: 866376047533135, IMEI 2: 866376047533127 là tài sản cá nhân của Nguyễn Hữu T không dùng vào việc phạm tội. Ngày 12/5/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện B đã trả lại tài sản này cho Nguyễn Hữu T.
Đối với 01 dao bấm bằng kim loại của Nguyễn Hữu T, không có giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Cáo trạng số 58/CT–VKSBB ngày 19/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T mức hình phạt từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị giải quyết.
Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) dao bấm bằng kim loại, cán dài 09 cm, lưỡi dài 07 cm, lưỡi kim loại, 01 cạnh sắc, 01 cạnh tù, mũi nhọn (đã qua sử dụng) là vật chứng không có giá trị sử dụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng qua phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và nội dung luận tội.
Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung truy tố, luận tội và không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng với quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ 00 ngày 20/02/2023, tại cửa hàng tạp hóa tên P ở khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương bị cáo có hành vi dùng tay giật 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, 01 hột quẹt táo bấm hiệu Vạn Xuân và 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng kèm mặt dây chuyền bằng kim loại, màu vàng hột tròn màu tím đang đeo trên cổ của bị hại rồi nhanh chóng tẩu thoát. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 11.737.500 đồng. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có cha là người có công với cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 (một) dao bấm bằng kim loại, cán dài 09 cm, lưỡi dài 07 cm, lưỡi kim loại, 01 cạnh sắc, 01 cạnh tù, mũi nhọn (đã qua sử dụng) là vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017;
Các Điều 106, Điều 136, Điều 260, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/02/2023.
3. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) dao bấm bằng kim loại, cán dài 09 cm, lưỡi dài 07 cm, lưỡi kim loại, 01 cạnh sắc, 01 cạnh tù, mũi nhọn (đã qua sử dụng).
(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/6/2023 giữa Công an huyện B – Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Duy |
Bản án số 71/2023/HS-ST ngày 24/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cướp giật tài sản
- Số bản án: 71/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
